
Thế võ
Hồ Sĩ Viêm
Nàng dáng bộ hiền
lành, trầm lặng, luôn chắp tay cầu nguyện. Người cổ Hy Lạp và người Ả Rập tin
nàng có nhiều quyền năng và phép thuật như các vị thần thánh.
Người Tàu tôn nàng là
Tổ sư của nhiều phái võ trong nuớc.
Chàng, người chồng
xấu số nhất thế gian, sợ nàng hơn sợ cọp. Ái ân chưa dứt, đầu đã lìa khỏi cổ.
Gặp quân thù, đôi
cánh tay nàng bung ra, rồi kìm chặt lại,nhanh như chớp, làm kẻ địch hết đường
rẫy rụa, phó mặc tính mạng cho nàng xử trí.
Đạo giáo nào cũng muốn
kéo nàng về phe phái mình.
Nếu bị dồn vào tử lộ,
thế võ “Nanh vuốt Chim Ưng” cuối cùng của nàng thường làm kẻ thù thất đảm.
Hiệp khách Nhật bản xưa,
vì mến mộ tài nghệ, đã khắc hình nàng trên chuôi kiếm.

Vậy Nàng là ai?
Ai mà hành tung vừa
hiền, lại vừa ác.
Ai mà đã coi đạo lý
thế gian như pha, tình nghĩa phu thê không đến một li giá trị. Mỗi lần ái ân,
cuộc tình đang đắm say chất ngất, thì nàng đã quá yêu,... hay quá giận,... hay
là điên cuồng, hay vì một lý do gì khác, đã chặt lìa cổ người chồng, để cho ông
này giãy tê tê hấp hối trong tiếc hận ngàn đời.
Tiếng tăm nàng vang
rậy. Phía nam giới hầu như ai cũng biết.
Người ta sợ. Người ta
chán ngán. Người ta than vãn. Rồi người ta triết lý, có lẽ đúng theo câu của
nhà văn Oscar Wilde: “La vie est tout simplement un mauvais quart d'heure
composé d'instants exquis”, nghĩa là “Đời chỉ là khoảng khắc đầy gian nguy gồm
những giây phút khoái trá”, vậy làm sao không biết thụ hưởng cái phần hạnh phúc
mà cuộc đời đưa đến cho ta, mà lại chỉ chăm chăm lo nghĩ, sợ sệt cái gì sẽ xẩy
ra ngoài ý muốn. Do vậy mà người ta vẫn cứ xán lại. Mọi người đều nhủ thầm:
“Phải cẩn thận, phải cao chạy xa bay, lúc nàng chưa nổi cơn điên”. Song... nào
một ai đã thoát. Ôi, định mệnh!
Vậy, nàng đẹp hay
xấu, có cái gì ẩn dấu, mà sao hấp dẫn thế?
Xin khất, sẽ trả lời
các bạn sau, vì còn biết bao nhiêu nghi vấn, thắc mắc về nàng.
Có một điều chắc chắn
là nàng thuộc về con nhà võ. Chính nàng đã khơi đầu cho những thế võ vô cùng bí
hiểm và hiệu lực, chế ngự kẻ thù trong giây khắc. Người Tầu đã nghiên cứu học
hỏi qua nàng, nên nền võ thuật của họ lừng danh trên hoàn vũ.
Nhiều nhân vật nổi
danh trên thế giới tìm hiểu nàng đã đặt câu hỏi: Thế võ “Nanh Vuốt Chim Ưng”
của nàng dũng mãnh và hiệu lực ra sao? Cùng trên bước đường giang hồ, nàng hành
hiệp theo hắc đạo hay hoàng đạo?
Mới hỏi, họ đã thấy
ngay câu trả lời, chắc là hoàng đạo rồi, vì tất cả khối nông dân nơi nàng hành
hiệp giang hồ đều biết ơn nàng. Nàng đã từng ra tay cứu khốn phò nguy, diệt kẻ
tham tàn, phá hại, những kẻ thù của người dân lành chất phác, để đem lại ấm no
cho toàn vùng. Tinh thần của nàng cao cả, không thế sao người Nhật lại tôn sùng
nàng, và khắc hình ảnh nàng trên chuôi kiếm.
Bao nhiêu câu hỏi,
bao hồ nghi... Để xin trả lời: Nàng quả thực đã nổi danh cả nhiều ngàn năm nay.
Nàng không được ghi vào sử sách nhưng đã được truyền tụng rất sâu rộng trong
dân gian và ở rất nhiều nơi. Mỗi địa phương nhìn nàng theo một con mắt khác
nhau.

Ở Việt Nam ta,
Nàng... chỉ là con “Bọ Ngựa”, hay nhiều người còn gọi nàng là con “Ngựa Trời”.
Quả thật Ngựa trời là
một con Bọ độc nhất vô nhị trên thế gian này có nhiều huyền thoại và tạo ra
nhiều mê tín nhất đối với con người của toàn thể 3 châu: Âu, Phi, Á.
Ngay như cái tên, từ
thủa xa xưa, người ta đã gọi nó, qua nhiều địa phương, bằng nhiều tên như: con
“Thầy bói” (soothsayer), “Nhà Tiên tri” (Prophis), “Thầy bói toán” (Diviner),
“Con Ngựa Ma” (Devil's riding horse), “Quái vật giết lừa” (Mule Killer), “Ngựa
Ma chồm vó” (Devil's rear horses). Ngoài ra nó còn các tên khác như “Ni cô”
(Nun), “Đấng Thánh” (Saint), “Kẻ ăn mày” (Mendicant), “Nhà Thuyết pháp”
(Preacher), v.v... Cho mãi đến năm 1758, Linnaeus, nhà vạn vật học Thụy Điển,
mới gom tất cả tên lẫn ý nghĩa, để đặt một tên chung cho nó là MANTIS. Mantis
theo tiếng Hy Lạp nghĩa là Prophis, tức “Nhà Tiên Tri”. Tên đó được giữ cho đến
ngày nay, cộng thêm một danh động từ nữa “Praying Mantis” tức là “Nhà tiên tri đang
cầu nguyện”.
Tám năm trước đây,
nhà côn trùng hoc Edward S. Ross đã bỏ rất nhiều công trình, lang thang khắp
mọi nơi, qua cả vùng sa mạc nắng cháy, lẫn những vùng rừng rậm hoang vu, để tìm
hiểu thêm về con bọ ngựa. Ông cho biết, những người Hồi Giáo, đến ngày nay, vẫn
còn tin rằng, con bọ ngựa đã luôn luôn chắp tay cầu nguyện và mặt hướng về
Mecca, vùng Thánh địa của họ.
Khi qua vùng sa mạc
xứ Ma Rốc, ông hỏi một người chăn cừu là làm sao anh ta định rõ được phương hướng
một khi lạc trong vùng biển cát mênh mông, thì người này trả lời, nếu trong lúc
đó mà có một con bọ ngựa xuất hiện, thì anh ta không sợ gì cả, vì con bọ ngựa
sẽ chỉ cho anh ta chính xác phương Bắc.
Lúc qua vùng Phi
Châu, người hướng dẫn, tên là Kalahari Bushmen, một người có học vấn tương đối
khá, mà đối với con bọ ngựa cũng có phần nể trọng, tuy có bắt nó cho đoàn, nhưng
trong cử chỉ có nhiều phần cung kính.
Tại Âu Châu nhiều mê
tín dị đoan vẫn còn bao quanh con bọ ngựa. Người nhà quê nuớc Ý tin tưởng rằng
nếu con bọ ngựa nhìn thẳng vào họ, họ sẽ bị ốm. Người Pháp đã có một thời tin
là, con bọ ngựa có thể chỉ cho họ hướng phải đi, để tìm lại đứa con bị thất
lạc. Trong khi đó người Sardinian, thuộc một hòn đảo trên Đại Tây Dương, gần nước
Ý, lại cho rằng, nếu giết, hoặc ngay cả đụng vào con bọ ngựa, thì sẽ gặp nhiều
chuyện không may.
Tại Á Châu, nhiều dân
tộc tại đây đã coi con bọ ngựa là biểu tượng cho tính khí can trường và lòng
lạnh băng. Như Trung Hoa có những bức tranh cổ, những tấm sơn mài xưa đã vẽ
hình những con bọ ngựa thật sống động, với những bài thơ đề tặng ca ngợi không
tiếc lời. Đời Nhà Minh lại còn để lại một khối ngọc thạch tạc hình con bọ ngựa
quí giá vô ngần. Tượng điêu khắc ngọc quí này Thụy Sĩ đã mua được và hiện đang
tàng trữ trong kho tàng quốc gia của họ.

Tại Nhật bản các hiệp
sĩ Samurai thủa xưa đã quí mến giống bọ ngựa, cũng như mến phục lối săn mồi,
giết địch rất nhanh nhẹn và chính xác của chúng, nên đã khắc hình bọ ngựa lên
chuôi kiếm của họ.
Tại sao giống bọ ngựa
được người xưa trọng vọng và nể vì như vậy?
Ta thử theo sát bản tường
thuật của nhà côn trùng học Edward. Ông đã tả: Trong một khu rừng rậm sâu thẳm
của Mã Lai Á, trong khi ông đang quay phim một chùm hoa đang nở, chợt ông thấy
một cái đầu hình tam giác xuất hiện. Nó từ từ ló lên, với đôi mắt to,lồi láu
liên, trông thông minh và có một sức hút kỳ lạ như thôi miên. Sau cùng cả thân
hình con bọ ngựa đứng sửng trên chùm hoa. Chắc nó sinh sống quen với vùng này,
nên cả thân hình nó đã đổi theo mầu đỏ của sắc hoa. Nó đứng yên bất động, với
hai chân trước co lại, hình dáng đặc biệt như một nhà tu hành đang chấp tay cầu
nguyện. Nó đứng yên như vậy lâu lắm, chỉ có chiếc đầu là thỉnh thoảng ngoảng đi,
ngoảng lại và xoay tròn cả gần 360 độ, tức nó thể ngoái ngược nhìn thẳng về
phía sau lưng. Đây là một đặc tính đặc biệt nhất không một loại côn trùng nào
có.
Nó đang cầu nguyện
thật sao? Không phải thế, mà là nó đang rình để giết.
Thì đây một con ong
bay vù tới, xà đậu trên trùm hoa để hút nhụy. Nhanh như cắt, con bọ ngựa vung
hai chân trước ra và chỉ trong vòng 1/20 của một giây, nó đã quặp chặt được con
ong. Những gai nhọn sắc viền bên trong đôi càng chân cứng đã dùi thủng từng
hàng lỗ trên thân hình ong. Thấy cái chết gần kề, con ong cố sức vùng vẫy để
thoát thân, thì bọ ngựa đã lặng lẽ đưa đôi hàm răng sắc ngoạm cắn từng mảng đầu
ong, làm con này hết cựa quậy. Sau đó không lâu cả con ong lớn đã tiêu tan mất
hút vào bụng bọ ngựa. Vẫn một dáng điệu từ tốn, bọ ngựa đưa càng lên, lấy lưỡi
liếm, như tắm rửa, y hệt như một con mèo.
Có lẽ thấy bọ ngựa
luôn chắp tay nguyện cầu thành khẩn, đúng hình ảnh một nhà tu hành đang tụng
niệm, nên người xưa mới lấy tên này đặt cho nó. Đạo giáo nào cũng thấy dáng bộ
nó nghiêm túc, luôn gợi ra niềm cảm xúc nể trọng như đối với những vị lãnh đạo
tinh thần của tôn giáo mình, nên đã dành cho bọ ngựa một địa vị tôn xứng. Tuy
nhiên chưa một ai tìm hiểu được nguyên do, vì sao nhiều người tin nó có thể tiên
đoán được nhiều sự việc, như một vị tiên tri. Cũng có thể có vài sự ngẫu nhiên
nào đó vô tình người ta nghiệm đúng, nên lan truyền tin này ra, làm tăng vẻ
huyền bí của bọ ngựa.

Người Tàu xưa đứng
lặng ngắm bọ ngựa ra tay giết địch, trong một loáng thật nhanh, như một võ tướng
hoa đao, đã kiềm chế nổi một con mồi to hơn nó gấp bội, nên thán phục và cố học
lấy thế võ đó. Vô hình chung, bọ ngựa đã trở thành vị sư tổ sáng lập ra nền võ
thuật Trung Hoa, để mỗi ngày một tiến mạnh, vang danh trên hoàn vũ.
Tính tình bọ ngựa vô
cùng hiếu sát. Nó không đi kiếm mồi, mà chỉ đứng một chỗ rình, chờ con mồi đến
nạp mạng. Tuy nhiên nó có linh khiếu vô cùng bén nhạy là biết tìm ra được những
lối đi, mà con mồi thường qua lại. Tại đó nó tha hồ vung tay bắt những cào cào,
châu chấu, bươm bướm, dế mèn, dế trũi, cùng những côn trùng đủ loại. Nó tàn sát
không ngưng tay và ăn cả ngày không bao giờ no bụng. Nhiều vùng cây cối tươi
tốt vì đã dược đoàn quân bọ ngựa che chở bằng cách diệt sạch những côn trùng
phá hoại.
Tuy nhiên trong cái
vòng luẩn quẩn của thiên nhiên, con bọ ngựa tìm bắt mồi ăn thịt, thì lại có
những con khác tìm nó làm mồi. Những kẻ thù của nó là chim, khỉ, chồn, sóc cùng
một số loài bò sát. Để tự vệ, trời phú cho bọ ngựa có thể tự hòa dạng được với
cảnh vật nơi nó đang sống. Bình thường bọ ngựa xanh màu cỏ. Nhưng nó có thể đổi
sang cùng màu vàng úa theo với lá cây, hay nâu nhạt mốc thếch như vỏ cây, hay
cùng nữa mang mầu đỏ, hồng, tím theo màu của sắc hoa. Hình thù nó cũng có thể
thay đổi như bè ra giống chiếc lá xanh, hoặc uốn lại cong queo như chiếc lá
khô, hoặc sần sùi bẹp sát như vỏ cây khô. Do đó trên thế giới các nhà bác học
tính có tới 1.800 giống bọ ngựa. Vì hóa trang, đổi dạng được như vậy, bọ ngựa
dễ tránh né được các con mắt cú vọ của kẻ thù.
Dù vậy, nó vẫn còn
một thế võ đặc biệt cuối cùng, khi bị dồn vào tử lộ. Đó là thế “Nanh vuốt chim ưng”.
Các nhà bác học đã lấy làm lạ, lúc thấy bọ ngựa mỗi khi gặp sự nguy hiểm khó
thể tránh là nó xoay thẳng người lại đối diện với kẻ thù, rồi đứng dựng lên,
dang rộng hai càng trước, cánh xòe ra và đập mạnh, thành thân hình đang nhỏ
thó, trở thành lớn rộng. Đồng thời ngay ở ngực nó có hai chấm đen là đôi mắt
giả, trông giống như một con chim ưng đang xòe cánh và giơ nanh vuốt chụp mồi. Đến
80 phần trăm trường hợp là kẻ thù nó giật mình, hoảng sợ, rồi quay đầu chạy
trốn. Thấy ngộ nhiều người đã gọi thế võ này là “Nanh vuốt chim ưng”.
Họ nhà bọ ngựa sinh
sản rất nhanh. Con cái mỗi lần Thu về đã đẻ ra có đến 10 buồng trứng, mỗi buồng
trứng, chờ mùa Xuân đến, nở ra từ 100 đến 400 con. Những con con mới nở giống y
như mẹ chúng, chỉ khác là chưa có cánh. Bọ ngựa mẹ không bao giờ để ý đến bầy
con, mặc chúng tự tìm lấy sống. Do vậy mới nở, bầy con đã tự phân tán, nếu
không, chính chúng lại tự ăn thịt lẫn nhau.
Tình gia đình giống
bọ ngựa rất lạnh lùng, hầu như không hề có. Ngay như tình nghĩa phu thê của
chúng cũng là một chuyện lạ trên thế gian. Thu về, mùa ái ân giăng giăng trên
khắp chốn, giống bọ ngựa nghe gió nhẹ vuốt ve, dấy động tình trai gái, nàng sẵn
sàng chờ đợi, chàng xoãi cánh bay tìm. Hình như biết sẵn số phận bi đát, não nề
dành cho người chồng, nên chàng trai có tìm thấy người đẹp cũng chỉ xà đến đậu
kề, chứ không dám sấn sổ tấn công ngay. Chỉ còn một gang tay xa cách, nhưng
chàng hình như vẫn còn thấy quá sợ sệt, không dám tiến nhanh, mà chỉ lê từng li
từng tí. Có mỗi gang tấc ngắn ngủn, mà chàng đã để cả vài tiếng đồng hồ mới vượt
qua nổi. Tới gần sát đuôi, chàng mới nhẹ nhàng bay chồm lên phủ người đẹp. Tình
yêu dâng cao chất ngất. Chàng hình như quên đời, quên tất cả, để hưởng thụ ái
ân đến độ tuyệt đỉnh. Những rung cảm làm chàng như mù quáng, không còn để ý đến
người yêu đang quay cổ nhìn lại và nàng đã nhỏe miệng như cười, như khoe hàm răng
trắng bóng, rồi bất chợt nàng ngoạm lấy cổ chàng... cắn yêu... không, nàng cắn
thật, vì đầu chàng đã lìa khỏi thân mình. Dưới mắt nàng, chàng chỉ là con mồi
không hơn, không kém. Vì ngay bây giờ dù đã mất đầu, chàng vẫn tiếp tục thiên
chức gây cho giống nòi bọ ngựa trường tồn. Nguyên dây thần kinh gây giốngcủa bọ
ngựa không ăn lên óc mà tự điều khiển lấy, nằm dọc theo thân hình con bọ. Do
vậy, hồn đã lìa khỏi xác mà chàng bọ vẫn còn tiếp tục ái ân cho đến vài tiếng đồng
hồ nữa và sau cùng chàng còn tự dâng hiến thân mình cho nàng no bụng.
Nghiên
cứu đến đây, nhiều đấng nam nhi sợ đến phát sốt và cầu nguyện kiếp sau có được
trở lại dương thế, xin đừng bị làm kiếp bọ ngựa đực. Tuy nhiên gần đây, sau
nhiều công trình khảo cứu các nhà bác học cho biết, trong thân con bọ ngựa đực
có chứa một chất protein rất cần cho sự dinh dưỡng trứng, cũng như sự khỏe mạnh
của bầy con. Như vậy họ đã giải oan cho tội giết chồng của nàng bọ ngựa. Nàng
bây giờ chỉ còn một tội là “Yêu con hơn yêu chồng”.