
Ngõ tre về xóm
Bài và ảnh: Trần Công
Nhung
Đã là người Việt Nam
mấy ai mà không nghe nói đến mây tre. Đồ dùng đong đựng trong nhà hầu như toàn
bằng tre mây: Từ cái rế nồi, đôi đũa ăn, khay trầu, thúng mẹt, nong nia, giường
chõng… cho đến chuồng trâu chuồng bò, nhà cửa, đều bằng tre. Nước Việt ba miền đều
có tre, tre trong mọi ngóc ngách thực dụng hàng ngày của dân quê. Tre quanh
nhà, tre bao bọc thôn xóm, tre dọc đường cái qua làng.
Vẻ đẹp của Đa Đề là
vẻ đẹp nam nhi mạnh mẽ, oai phong chững chạc, Tre đẹp mềm mại lả lướt, thanh
thoát hơn. Đa Đề ở nơi đình chùa miếu mạo, Tre gần gũi người dân hơn. ‘Ăn măng
luộc, ngủ giường tre’.
Tre cũng phân ra đực
cái, tre đực đặc ruột, cứng, khó mối mọt, lâu hư mục, dùng làm giàn bầu bí,
chuồng trại, bắc cầu qua sông lạch….. Tre cái rỗng ruột, mỏng da lóng dài, để đan
lát hay làm lạt buộc đồ. Thôn quê mà thiếu tre người dân sẽ lúng túng trong
nhiều công việc hàng ngày. Thời xa xưa, trẻ nhỏ làng quê học vần bằng những chữ
cái viết trên miếng tre, hoặc mo cau. Bút cũng bằng tre, mực là nước hột mồng tơi
tím. Ở vùng Trà Cổ (Móng Cái), thuyền đánh cá còn cặp nhiều tre hai bên mạn,
phòng khi gió bão. Tre không có gì gọi là thừa thãi, ngay cả cành nhánh, cũng
làm chuôm cho cá đìa, cá ao, hoặc phơi khô đun bếp, tăm tre nhiều người vẫn
thích hơn tăm gỗ vì không bị gãy trong chân răng khi xỉa.
Tre tuy không mang ý
nghĩa quân tử như Trúc, nhưng đa dụng hơn, nhờ thể chất cứng bền. Dân làng quê
thời xưa còn đi guốc tre, na ná guốc gỗ Nhật Bản.

Tượng gốc tre
Ngày nay gốc tre là
vật liệu cho nghệ sĩ điêu khác. Nhiều tác phẩm điêu khắc trên gốc tre rất độc đáo,
hấp dẫn khách phương Tây. Những chân dung bằng gốc tre mang nét cổ kính và cao đạo,
không trơn tru bình dị như tượng gỗ thông thường. Trường thi ngày xưa dùng bảng
cót (tre đan), để viết tên những người bị rớt. Về sau, dù danh sách đánh máy nhưng danh từ “bảng cót” vẫn dùng.
Tre cũng có nhiều
loại khác nhau: Tre vàng, tre cán giáo (thân nhỏ bằng cổ tay, nhiều ở miệt Biên
Hòa) tre xanh. Họ hàng với Tre còn có Lồ ô, Bương, Giang, Trúc, Hóp…Sặc, lớn
nhỏ khác nhau không rõ do lẽ gì, mỗi giống sống theo từng vùng riêng. Tre dưới đồng
bằng, Lồ ô trên rừng. Người ta trồng tre, trúc, không ai trồng lồ ô. Một loại
cỏ thân bằng cây tăm, cao khoảng 20 phân rất giống cây trúc thu nhỏ, giới chơi
non bộ gọi là “Thảo Trúc”. Non bộ và tiểu cảnh biết khai thác giống Thảo Trúc
này, sẽ làm cho tác phẩm sống động, duyên dáng và thực hơn.

Bến Kim Long (Huế)
Ở miền Trung có một
giới chuyên lên rừng chặt Lồ ô, kết thành bè theo sông về xuôi. Nha Trang có
bến Lồ ô bên cầu Hà Ra, Huế có đường Hàng Bè dọc sông Gia Hội cũng là bến Lồ ô.
Hình ảnh một tốp bè nối đuôi trên sông Cái (Nha Trang), trên sông Hương (Huế),
mỗi bè hai người chống, đẹp biết bao, bây giờ ít thấy, vì nguồn nguyên liệu cạn
kiệt. Mặt khác giao thông ngày nay vào tận “vùng sâu vùng xa” (thâm sơn cùng
cốc), chuyên chở bằng xe vận tải tiện lợi hơn.
Lồ ô có dáng hiền hòa
hơn tre, đặc biệt thẳng cây, đốt dài gấp mấy lần, rất tiện cho công việc làm nò
cá, thúng chai, ghe câu… mành treo trước nhà, ngay cả “kỹ nghệ” làm lồng chim
cũng cần lồ ô lóng dài (1). Những người hút thuốc lào nhất thiết phải có một đốt
tre cái vừa phải để làm chiếc điếu cày: Ống tre cắt một đầu mắt, khoét một lỗ
nhỏ cách đầu mắt kia chừng mươi phân, gắn nồi thuốc tựa như nồi thuốc ống điếu
(dố), đổ nước tới mức nồi thuốc. Khi hút vê thuốc nhét vào nồi, kê mồm vào
miệng ống, châm lửa hít một hơi dài cho cháy hết thuốc, từ từ nhả khói ra. Nếu
ngắn hơi, bặp bặp (vừa hít vừa thở) nhiều lần, lần sau cùng cố một hơi cho cháy
cạn thuốc. Nhìn một người hút thuốc lào sành điệu, tôi thấy có cái gì đó vừa
thành khẩn say mê, quên hết sự đời, vừa cho một hình ảnh rất đẹp lúc nhả khói.
Dân thuốc lào còn phân biệt điếu cày và điếu ục. Điếu ục bằng ống bương to hơn.
Dân miền Tây Bắc thường dùng điếu ục.
Về thực dụng, tre
không bền bằng cây gỗ hay kim loại, song về nghệ thuật, tôi thấy tre trội hơn.
Chụp ảnh một “cầu tre lắt lẻo” có người quang gánh đi qua, hay chụp một hàng
rào tre ngoằn ngoèo có mấy em bé tan trường về, dễ đẹp hơn, dễ gợi cảm hơn là
ảnh một cầu đúc hay cầu sắt. Cũng vậy, nhìn người hút thuốc lào bằng điếu nhôm
tôi có cảm giác thuốc không ngon, thiếu đậm đà và không thực…Nếu phải kể công
dụng của Tre, Bương…thì còn nhiều nhiều…, tùy nhu cầu và sinh hoạt mỗi địa phương.
Mây đi đôi với Tre,
bổ sung nhau trong việc chế tạo đồ dùng hàng ngày, nhất là dân nghềø nông, nghề
biển. Mây cũng cho những sản phẩm thủ công giá trị về thẩm mỹ, thu hút khách
tiêu thụ không chỉ trong nước mà cả ngoại quốc. Mây đi với tre vì có những phần
tre không kham được, như lúc đan kết đồ vật cần sợi dài. Mây rừng dài từ ba bốn
mét, mây dai dẻo hơn tre, rất tiện trong công việc tạo hoa văn tỉ mỉ trên đồ
dùng (2). Mây hiếm hơn Tre vì Mây ở rừng, thuộc loại dây leo, có vòi gai móc,
khó lấy, sơ ý là bị rách da. Ghế mây, gối mây, giỏ mây… Mây làm ra những mặt
hàng cao sang đắt giá hơn. Cùng họ với Mây có Song, thân lớn, cứng chắc, làm sườn
ghế bàn, hoặc chẻ ra thành sợi nhỏ để đan. Theo những người làm nghề tre đan ở
Phú Vinh (3) (huyện Chương Mỹ, Hà Tây) cho biết, thì Song có nhiều ở vùng Quảng
Nam Đà Nẵng, và là nguồn cung cấp cho các làng nghề phía Bắc. Mây Tre như đôi
bạn chí cốt thường có nhau.
Hình ảnh Tre hiện
diện thường xuyên trong đời sống và đi vào lòng người khá sâu đậm, nhất là
những ai đã sinh ra và lớn lên giữa lũy tre xanh, thì rất dễ có cảm xúc khi
nghe những vần ca dao nhắc đến tre. Mây trên rừng, tre ngay bên hè nhà, tre bao
bọc nơi ăn chốn ở, lũy tre làng như hàng rào che chắn gió bão, như ranh giới
của một địa phương.

Đường làng (Cao
Bằng).
“Sau lũy tre xanh”
hàm ý gói ghém tình tự quê hương, chốn riêng tư nhiều gắn bó. Ra khỏi lũy tre
xanh là tha phương cầu thực, rời xa nơi đã in đậm bao nhiêu kỷ niệm một thời.
Cho nên, mỗi khi nhớ quê nhà là hình ảnh lũy tre, bến nước con đò lại hiển hiện
ray rứt tâm tư. Tre quả thực ăn sâu vào tâm thức người Việt, từ hình ảnh lũy
tre, cho đến những sản phẩm chế tạo từ tre, Tre bàng bạc khắp nơi, Tre nhắc nhở
cả gia phong đạo đức. Có lần ghé qua phố cổ Hội An, tôi vô cùng thích thú khi
thấy những câu chữ Nho viết trên ống tre hun khói: Phước Như Đông Hải, Khang Thái Giai Lão Bách Niên.(4)

Măng tre Phú Thọ
Tre non nhú lên khỏi
mặt đất chừng ba bốn mươi phân, gọi là măng, nếu không muốn để thành tre thì bẻ
làm thức ăn. Măng thịt mềm, có hương vị hăng hăng đặc biệt, dùng nấu nhiều món ăn
mà xứ khác dù có măng cũng không biết. Măng luộc, măng xào, măng chua…thịt xáo
măng. Trên nguồn còn có Giang cùng họ với tre, người ta bảo măng giang ngon hơn
măng tre, tôi chưa được ăn bao giờ nhưng nghe câu: “Canh măng giang nấu cá
ngạnh nguồn”, thấy cũng hấp dẫn. Cá ngạnh, có nơi gọi là cá ngát, là loại cá
sông, giống như cá trê, nhỏ bằng ngón tay, thịt ngọt thơm, không mỡ, thôn quê
thường kho khô hay nấu canh, tuy vậy làm cá ngạnh dễ bị ngạnh cá châm tay, nhức
buốt không chịu nổi nhất là vào mùa rét. Giống cá này ưa châm chích mà kém chịu
lạnh. Hồi còn nhỏ tôi có lần đi xúc cá ngạnh, trời rét quá cá nổi đầy trên mặt
nước. Từ ngày bỏ quê ra tỉnh, mãi những năm về sau, tôi chưa một lần gặp lại
thứ cá nhỏ con ngon thịt này. Ngày nay các quán ăn có món vịt nấu măng, bún măng…Măng khô dùng nấu cỗ bàn vào dịp
Tết.
“Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi
nao,
Tôi có lòng nào ông
hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nướng
trong,
Đừng xáo nước đục đau
lòng còn con”.
(Quốc văn giáo khoa
thư) (5)
Trên nguồn còn có măng
sặc (Reed), loại tương cận với trúc, thân chỉ bằng ngón tay, người vùng Tây Bắc
luộc chắm với muối gia vị đặc biệt. Không quen rất khó ăn (6). Cụ Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong bài thơ Tứ thì có câu:
Thu ăn măng trúc, Đông
ăn giá
Xuân tắm hồ sen , Hạ
tắm ao.
Tuy thế chưa thấy ai ăn
măng trúc, có lẽ măng trúc chẳng đáng bao nhiêu so với măng tre, hơn nữa Trúc
là loài đặc biệt quí phái, được dùng làm biểu tượng cho người quân tử. Ngõ vào
nhà thường trồng trúc hai bên. Ngày trước cụ Tam Nguyên Yên Đổ mượn trúc nói về
cảnh thanh bần lạc đạo:
“'Từng mây lơ lửng
trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.
Thời Đệ nhất cộng hòa
ở miền Nam, con dấu của chính phủ dùng hình khóm trúc do ý nghĩa: “Tiết trực
tâm hư” (đốt thẳng, ruột rỗng – chí công vô tư). Trúc được chọn trong bộ tranh Tứ Bình nói về hoa lá bốn mùa: Mai,
Lan, Cúc, Trúc.
(Còn tiếp)
Trần Công nhung
05-2008
(1)Lồng chim cần lóng
dài, như lồng Họa Mi, Sơn Ca, lóng ngắn vấp mắt khó chuốt, lồng không đẹp, xem
bài Làm Lồng trang 20 BVNCCK.
(2)Sẽ nói rõ trong
bài “Nghề tre đan”
(3) Xem “Nghề tre đan”
trong những kỳ tới
(4) Phố Hội trang 161
QHQOK tập 1
(5)Giáo dục phong
kiến dạy con người có tình có nghĩa, có ý thức đạo đức gia phong, ngày này
không còn thấy trong nhà trường. (không có môn công dân, đức dục).
(6) Bản làng Điện
Biên trang 143 QHQOK tập 4
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 9, Buồn Vui Nghề Chơi
Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện tình trên quê hương), Về Nhiếp Aûnh, Thăng Trầm
(chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, mỗi tác phẩm đều có
nhiều phụ bản ảnh màu.
Liên
lạc: Tran Cong Nhung
P.O.Box 254 Lawndale, CA. 90260 email: trancongnhung@yahoo.com Website:
www.ltcn.net