
Thit gà - Hình minh họa ViLang/ViễnĐông
Nguyễn Hưng Quốc
Không biết các bạn
thì như thế nào chứ tôi, mặc dù sống ở ngoại quốc khá lâu và có bạn người ngoại
quốc cũng không ít, lại rất ngại rủ bạn bè ngoại quốc đi ăn, nhất là ăn thức ăn
Việt Nam.
Nghe, dễ tưởng là kỳ
quặc. Muốn giới thiệu văn hoá Việt Nam thì còn gì hay cho bằng giới thiệu văn
hóa ẩm thực của dân tộc?
Nghĩ lại xem, đối với
phần lớn người ngoại quốc, Việt Nam có gì khác ngoài chiến tranh và ăn uống?
Ngày xưa, thỉnh
thoảng người ta còn nhắc đến áo dài. Nhưng vị trí của áo dài càng lúc càng lu
mờ. Lu mờ ngay ở Việt Nam: Càng ngày càng ít người mặc, trừ nữ sinh ở các trường
trung học. Càng lu mờ ở hải ngoại: Ở xứ lạnh, hầu hết phụ nữ Việt Nam đều ngại
mặc áo dài, trừ phi đi lễ ở nhà thờ vào các mùa nắng ấm.
Nhưng ở Tây phương,
thành thực mà nói, chiếc áo dài hình như cũng không phát huy hết sở trường của
chúng: Cần mỏng và cần gió để, một mặt, phô bày các nét cong của thân thể và
sắc trắng mịn của làn da; mặt khác, để tà áo có thể bay phơ phất hầu làm tăng vẻ
thướt tha của người mặc nó.
Mất chiếc áo dài, văn
hóa Việt Nam chỉ còn một hiện thân ở các món ăn, đặc biệt là phở. Phở đi vào
nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Phở không cần được dịch. Các tiệm phở chỉ cần ghi
chữ Phở là người ngoại quốc sẽ nhận ra ngay tức khắc.
Tuy vậy, tôi vẫn ngại
ăn chung thức ăn Việt Nam với người ngoại quốc.
Ngại, phần lớn vì
những đặc trưng của các món ăn Việt Nam. Tôi có cảm tưởng muốn thưởng thức hết
cái ngon của thức ăn Việt Nam, cần mời người ngoại quốc, nhất là người Tây phương,
... đi chỗ khác chơi.
Này nhé, nhiều học
giả chuyên về ẩm thực của Việt Nam đã nêu lên nhận xét này: Điểm đặc biệt dễ
nhận thấy nhất là người Việt Nam không chỉ thưởng thức món ăn bằng vị giác mà
còn thưởng thức bằng cả năm giác quan. Đúng hơn, bốn giác quan: Trừ xúc giác.
Chúng ta dùng đũa chứ không dùng tay; rất hiếm khi dùng tay, trừ trường hợp ăn
các loại bánh tráng cuốn.
Trước hết là vai trò
của vị giác.
Một món ăn ngon phải
là một món ăn ngon miệng. Cái lưỡi sẽ là giám khảo đầu tiên. Đó là chuyện dĩ
nhiên và là điểm chung của tất cả mọi dân tộc. Người Việt Nam cũng thế. Việc
cho thêm gia vị này nọ vào thức ăn là để đáp ứng nhu cầu này. Trong một tô phở
hay tô hủ tiếu, chẳng hạn, đã có chút mặn của muối, chút ngọt ngào của đường
hay bột ngọt, lại cần có chút cay của tiêu, của ớt, và chút chua chua của chanh
nữa thì mới trọn vẹn.
Sau nữa là vai trò
của thị giác.
Ngoài việc ngon
miệng, thức ăn phải nhìn sao cho bắt mắt nữa. Trong chén nước mắm pha sóng sánh
vàng, phải thêm những xác ớt đỏ tươi thì mới thấy ngon. Thay ớt đỏ bằng ớt
xanh, cho dù độ cay như nhau, chén nước mắm coi như bỏ. Trong tô mì màu vàng
nhạt bao giờ cũng có chút hành, ngò màu xanh nằm bên cạnh miếng bánh tôm màu
nâu sậm, và những miếng thịt heo thái thật mỏng màu trắng, tất cả tạo thành một
sự hài hòa về màu sắc.
Ngay cả việc bày một đĩa
thịt gà trong bữa ăn cũng lắm công phu. Thường thì người ta bày ngửa miếng thịt
lên một đĩa, da gà ở dưới, thịt xương ở trên, sau đó, người ta lại lật úp sang
một đĩa khác để phần da gà nổi lên trên, rực lên màu vàng ruộm rất đẹp mắt. Sau
đó, người ta sẽ rắc một tí ngò xanh lên và cuối cùng, đặt một trái ớt đỏ ngay
chính giữa, làm thành một tác phẩm tuyệt đẹp.
Ở các tiệm sang hay ở
các bữa tiệc cầu kỳ, người ta còn bày đủ trò trang trí: Trái ớt thay vì được đâm
cho nát thì lại được chẻ và bẻ ra thành nhiều cánh trông như một đóa hoa đỏ
rực. Củ cà rốt hay quả dưa leo được cắt, gọt và trình bày lúc thì như hoa lúc
thì như chim đang sải cánh bay.
Đặc biệt hơn nữa là
vai trò của khứu giác. Nhà văn Võ Phiến có một nhận xét tinh tế:
Những người Việt Nam
sành ăn đều ăn bằng... mùi. Đối với nhiều dân tộc khác, rau chỉ là rau. Đối với
chúng ta có cả một thứ rau gọi là ‘rau thơm’, rau mùi. Mớ rau thông thường của
thiên hạ đi vội vàng vào bao tử, bất quá chỉ cần đáp ứng một vài đòi hỏi của vị
giác, công dụng chính của nó là công dụng bồi bổ sinh lý, là nhằm một ích lợi
thực tiễn.
Rau mùi không phải là
thứ rau cho bao tử, mà là cho lỗ mũi, cho cái khứu giác tinh vi của một dân tộc
không phàm phu, một dân tộc nhằm ‘hưởng’ hơn là ăn. Rau mùi không làm ai no
ruột thêm chút nào, nó chỉ có công dụng nghệ thuật mà thôi. [...]
Trong một đĩa rau thơm,
mùi nọ lẫn với mùi kia, tôn nhau lên, chế hóa nhau: Đó là một cuộc hoà tấu, một
bản nhạc mùi.
(Võ Phiến, Tuỳ bút,
nxb Văn Nghệ, California, 1986, tr. 82).
Trọng cái mùi,
hầu hết các món ăn của người Việt đều được ăn nóng. Trên bàn ăn của người Việt
thường có khói tỏa nghi ngút. Ở đây, khói chỉ là hiện tượng. Bản chất của vấn đề
là ở cái mùi. Chức năng của khói là đưa mùi bay cao và bay xa. Ngày xưa, những
người sành ăn, khi đối diện với tô phở vừa mang từ bếp ra, công việc đầu tiên
của họ là áp mũi lên trên tô phở để hít hà cái mùi đặc biệt của phở. Chỉ từ cái
mùi, người ta có thể sơ bộ đánh giá được là phở ngon hay là dở.
Trọng cái mùi, người
Việt Nam đi đâu cũng mang cái... mùi đi theo. Ở ngoại quốc, muốn tìm nhà đồng hương
ư? Dễ lắm. Cứ dòm vào vườn sau của họ: Thế nào cũng có vài cây ớt hay vài dãy
hành, ngò, húng, rau răm, v.v... Đến gần cửa, cứ nghếch mũi lên hít hà vài cái:
Thế nào cũng nhận ra mùi nước mắm, mùi hành, tỏi phi, v.v...
Nhưng đặc thù nhất là
người Việt Nam còn thưởng thức món ăn bằng... thính giác.
Nhiều món ăn Việt Nam
sẽ không thể ngon được nếu nó không kêu vang lên. Ăn bánh tráng nướng hay bánh
phồng tôm hay ngay cả miếng chả giò (nem), mà không nghe tiếng xốp xốp sẽ không
thấy ngon. Ăn cà muối mà không nghe tiếng nổ bụp trong miệng sẽ không thấy đã. Ăn
phở hay hủ tiếu mà từ tốn quá, cứ nhai từng cọng thì cũng hết cả ngon.
Món ngon phải ồn. Đó
mới chính là điều đáng ngại. Người ta ăn một cách nhỏ nhẻ, lặng lẽ, nhai không
mở miệng mà mình thì cứ nhóp nhép ồn ào, thật kỳ. Bởi vậy, không phải ngẫu
nhiên mà những món ăn người Việt Nam khoái khẩu nhất thường ăn ở nhà chứ không
phải ở tiệm. Ở những nhà hàng lớn, càng sang trọng bao nhiêu, ăn uống càng rón
rén bao nhiêu, càng mất hào hứng bấy nhiêu.
Ở nhà hàng lớn ấy,
lại có mấy người bạn mũi lõ ngồi bên cạnh nữa thì lại càng chán.
Nguồn:
tienve.org/VOA.