Số 251 ngày 30-3-2008 Văn Quang
Trong tuần vừa qua, một scandal nổ ra làm rung rinh các
phòng trà và những nơi được gọi là “tụ điểm ca nhạc” ở Sài Gòn, làm giật mình
nhiều ca sĩ lớn nhỏ, gây nhiều tranh cãi trong giới ca nhạc sĩ và trên thực tế
cũng khiến nhiều người nhún vai, cười nụ, chẳng thèm suy nghĩ làm gì cho mệt,
dù có liên quan đến việc phải thanh toán tiền tác quyền.
Câu chuyện lẩm cẩm này đã râm ran từ khá lâu, nhưng đến nay
mới nổ bùng như cái lò xo bật lên khi bị dồn ép. Sở dĩ có sự “dồn ép” này vì
thời hạn mà người có quyền đòi tiền buộc các “con nợ” phải trả lời trước ngày
31 tháng 3, tức là sau 2 ngày, khi tôi viết bài này.
Tôi cần xác minh ngay, ở đây tôi không đề cập đến lập trường
cũng như cách sống của Trịnh Công Sơn, không bàn đến đời sống riêng tư cá nhân
hoặc chuyện người yêu kẻ ghét. Tôi chỉ tường trình làm sáng tỏ một sự kiện vừa
xảy ra để bạn đọc theo dõi. Một vấn đề thuộc về Trịnh Công Sơn nhưng lại gần như
chẳng có liên quan gì tới anh. Chuyện của người sống chứ không phải của người
chết. Dù sao quan điểm của tôi là việc đòi tiền tác quyền cho một tác phẩm văn
học nghệ thuật bất cứ ngành nào cũng là chính đáng. Không thể sống trên mồ hôi
tim óc của người sáng tạo.
Những dồn ép về thời gian
Cái ngòi nổ bắt đầu từ trung tuần tháng 3, khi nữ ca sĩ
Trịnh Vĩnh Trinh, thay mặt gia đình cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi văn bản đến
các phòng trà, tụ điểm ca nhạc, đơn vị tổ chức biểu diễn để đề nghị thanh toán
tiền tác quyền cho việc sử dụng các tác phẩm của anh mình.
Văn bản yêu cầu do bà Trịnh Vĩnh Trinh - em gái nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn ký tên. Nội dung, bà Trinh yêu cầu: Thanh toán tiền tác quyền
của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn là 300.000 đồng một bài cho một lần biểu diễn. Nói
khác đi là cứ hát một bài của TCS là phải trả 300 ngàn (bằng 19 USD theo tỉ giá
hối đoái tại VN hiện nay).
Tổng số tiền thanh toán căn cứ vào tổng số lần biểu diễn tất
cả các bài hát của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn tính từ khi Luật Sở hữu trí tuệ Việt
Nam có hiệu lực thi hành.
Ngoài ra văn bản yêu cầu trên còn nói rõ: “Thời hạn thanh
toán chậm nhất là ngày 31-3-2008. Trong trường hợp không nhận được tiền tác
quyền nói trên trong thời hạn này, chúng tôi sẽ nhờ luật sư đại diện pháp lý
của gia đình giải quyết theo Pháp luật Việt Nam và ông (bà) phải chịu trách
nhiệm thanh toán tất cả mọi chi phí phát sinh, kể cả chi phí pháp lý”.
Như vậy, nếu căn cứ vào văn bản yêu cầu của gia đình cố nhạc
sỹ Trịnh Công Sơn thì từ ngày 1-7-2006 (ngày Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có
hiệu lực) cho đến tới cuối tháng 3-2008 này, những phòng trà hay tụ điểm kinh
doanh ca nhạc tại TP Sài Gòn sẽ phải trả một số tiền không nhỏ.
Làm sao chứng minh?
Câu chuyện bắt đầu gay cấn vì thời hạn đầu và chót của người
sử dụng tác phẩm. Nếu tính từ 1-7-2006 đến nay là gần hai năm, cứ tính gọn là
500 ngày đêm, thì đã có không biết bao nhiêu phòng trà, tụ điểm, đơn vị tổ chức
biểu diễn và các ca sĩ, nhà làm băng đĩa nhạc, quán cà phê ở Sài Gòn và Hà Nội đã
hát nhạc Trịnh và số tiền thu về, nếu được trả đầy đủ sòng phẳng theo yêu cầu
của người đòi tiền bản quyền thì chắc phải lấy vài cái xe vận tải chở mới hết.
Tuy nhiên làm thế nào để chứng minh rằng anh này có hát nhạc của anh tôi, anh
kia hát bài gì vào những ngày tháng nào, chị kia tổ chức đêm nhạc anh tôi thu
bao nhiêu triệu, bà nọ lấy bài của anh tôi chơi trong cái live show hoặc đưa
vào CD của mình thì chỉ có hỏi ông Trời.
Cú sốc hay sự thách thức?
Công bằng mà nhận xét, sự “cương quyết” trong văn bản có vẻ
cứng rắn của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh khiến nhiều ông bà chủ gọi chung là chủ
phòng trà đều hơi giật mình, có thể còn là một cú sốc, là một sự thách thức khi
thẳng thừng đòi đưa nhau ra trước pháp luật. Mặc dầu ai cũng hiểu đó là quyền
chính đáng của người thừa kế một “gia tài”, không như trong bài hát của Trịnh
“gia tài của mẹ để lại cho con” một đống đau thương tan nát, mà gia tài này nếu
biết khai thác, nó gần giống với kho vàng. Một người công nhân ở Việt Nam, làm
cả tháng may ra mới để dành được 300 ngàn, thời buổi giá cả leo thang này có
khi chỉ còn được một nửa số tiền đổ mồ hôi sôi nước mắt suốt 30 ngày ấy là may
mắn lắm rồi. Vậy mà chỉ cần một anh nào đó leo lên hát một bài năm ba phút, ta
hưởng trọn 300 ngàn không là hạnh phúc lắm sao? Đối với người Việt, đó là một
con số “đáng nể”.
Dư luận lập tức om sòm đầy trên các mặt báo in, báo điện tử.
Tôi theo dõi những sự việc này đồng thời điện thoại cho một số những người bạn
tôi ở nước ngoài, những ông bạn có liên quan đến báo chí và trong môi trường ca
nhạc để ghi nhận những ý kiến khách quan hơn. Ông Hoàng Thi Thao, Hà Xuân Du,
Huy Phương,à mỗi người đều có những nhận định riêng. Tôi sẽ tường trình ở phần
sau.
Lý do của người thừa kế
Xin tóm tắt lý do viện dẫn do ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh nêu ra
là:
“Trước đây, lúc sinh thời anh Sơn không đặt vấn đề thu tác
quyền nên chúng tôi không thu. Bây giờ anh Sơn đã mất, Việt Nam lại có Luật Sở
hữu trí tuệ nên là những người thừa kế, chúng tôi phải có trách nhiệm gìn giữ
bảo quản những di sản anh Sơn để lại".
Bà cho biết: "Chúng tôi thu tiền tác quyền để xây dựng
quỹ học bổng mang tên anh Sơn, nhằm hỗ trợ tài năng trẻ Việt Nam. Đây cũng là
nguyện vọng của anh Sơn lúc sinh thời”.
Sở dĩ gia đình nhạc sĩ phải lên tiếng là vì nhiều nhà tổ
chức chương trình ca nhạc chuyên về nhạc Trịnh nhiều năm qua đã không đả động đến
chuyện tác quyền. Có công ty ở Hà Nội - sau khi thương thảo với gia đình về tác
quyền, đã “xin cáo lỗi” vì chương trình không tổ chức được (nhưng thực tế vẫn
diễn ra 3 đêm).
Một phòng trà được báo chí nêu đích danh như phòng trà Không
Tên ở TP Sài Gòn tổ chức 2 đêm nhạc Trịnh Công Sơn do Quang Dũng biểu diễn, số
tiền phụ thu lên đến 300.000-350.000 đồng/người, khán giả ngồi kín chỗ, nhưng
vẫn lờ chuyện trả tác quyền. Mới đây nhất, một nhạc sĩ có tiếng cũng tổ chức chương
trình ở Hà Nội, nhưng chẳng hề liên hệ gì với gia đình“
Tuy nhiên, một số chủ phòng trà lớn vẫn im lặng, thậm chí
còn tuyên bố sẽ ngừng hát nhạc Trịnh nếu có công văn "làm khó" kiểu
này. Có nơi còn "gửi" ca sĩ đến thương lượng chuyện tác quyền, như trường
hợp ca sĩ Đức Tuấn được phòng trà Không Tên phái đến, nhưng "thương
thuyết" không thành.
Đến nay, đã có nhiều phòng trà nhỏ đến gặp đại diện gia đình
đặt vấn đề về tác quyền. Theo ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, điển hình là Cty tổ chức
biểu diễn ở Hà Nội ca sĩ Duy Thái (Hải Phòng), phòng trà Yesterday (TP Sài
Gòn), café Trịnh (Tân Bình, TP Sài Gòn), quán café của ca sĩ Lan Ngọc...
Chị cho biết: "Tôi đã đồng ý cho một số nơi đóng góp
trên tinh thần tự nguyện. Chỉ một phần rất ít, do phản ứng nhất thời và do chưa
có thói quen trả tác quyền cho anh Sơn, họ phản đối việc này. Trong khi đó,
việc trả tác quyền là việc pháp luật đã quy định chung cho tất cả các nhạc
sĩ".
Phản ứng của các chủ phòng trà
Trở lại với những phản ứng tức thời của những vị có liên
quan trực tiếp đến vụ này trong nước.
Có thể kể đến nữ ca sĩ Ánh Tuyết -chủ phòng trà ATB, bà phân
trần:
"Khi nhận thư này, tôi thấy bối rối, thậm chí khủng
hoảng về tinh thần. Trước nay, tôi vẫn nghĩ mình làm là vì yêu mến nhạc sĩ, làm
một cách vô tư, mong truyền bá tác phẩm đến nhiều người nghe, thì nay phải lo
một khoản tiền lớn, nếu không, có nguy cơ hầu tòa.
Nếu có thông báo từ trước, thì chúng tôi sẽ có một lộ trình để
sắp xếp, lên kế hoạch, hát bao nhiêu bài nhạc Trịnh, để có khả năng chi trả.
Còn đùng một cái, có công văn đòi thanh toán, thì tôi chưa biết phải tính sao.
Trước đây, ATB từng gửi 10 triệu đồng cho gia đình trong
ngày giỗ của anh Sơn, như là tiền bản quyền tượng trưng. Còn từ hôm nhận được
giấy yêu cầu trả bản quyền trên, ATB ngưng hát nhạc Trịnh. Tiền tác quyền thì phải trả theo luật, nhưng
nếu cứ truy theo 300.000 đồng/bài thì khó cho chúng tôi quá. Vì một đêm hát 20
bài nhạc Trịnh (thứ Sáu hàng tuần), trung bình đã phải trả 6 triệu đồng, nhưng
có khi tổng doanh thu chỉ 2 triệu đồng (20 khách). Như thế thì làm sao phòng
trà chịu nổi? Phải căn cứ theo chuẩn nào, cách làm nào cho hợp lý, có tính
toán, theo doanh thu chứ không thể truy thu kiểu như thế được. Còn về lý, tôi
hoàn toàn đồng ý với việc trả tác quyền cho tác giả theo đúng luật định".
Lời tâm sự này đã gặp ngay phản ứng kín đáo của phía gia đình
TCS khi trả lời phóng viên báo chí “không chấp nhận kiểu trả tiền tượng trưng”.
Một chủ phòng trà xin giấu tên cho biết ngay từ khi nhận được
giấy yêu cầu trả tiền tác quyền, phòng trà của ông không sử dụng nhạc Trịnh
Công Sơn. Thậm chí có đêm, khi có khán giả yêu cầu ca sỹ hát nhạc Trịnh, ông
cũng không cho phép hát vì sợ phải trả thêm tiền.
Thật ra đây là “chiêu thức” giản dị nhất mà hầu như phòng
trà ca nhạc, quán cà phê, và ngay cả những ca sĩ hay hát nhạc Trịnh cũng sử
dụng. Một phản ứng tự vệ như thế cho đỡ phiền và đỡ tốn kém.
Một phản ứng khác gay gắt hơn
Ông Trần Bình là người tổ chức chương trình “Này em có nhớ” đầu
tháng 3 vừa qua tại Nhà hát Lớn Hà Nội, tập hợp 9 ca khúc của Phú Quang, 6 ca
khúc Ngô Thụy Miên, 6 ca khúc Trịnh Công Sơn.
Ông bầu Trần Bình nhận được tin nhắn qua điện thoại của chị
Trịnh Vĩnh, yêu cầu trả tiền tác quyền Trịnh Công Sơn là 1 triệu đồng một ca
khúc, một đêm. Tin nhắn cũng yêu cầu nhà tổ chức trả qua người đại diện của gia
đình tại Hà Nội chứ không trả qua Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc VN.
Với 3 đêm diễn, tổng số tiền tác quyền Trịnh Công Sơn mà nhà
tổ chức phải trả là 18 triệu đồng.
Theo ông Trần Bình, đúng Luật Bản quyền, ông đã trả 72.000 đồng
một ca khúc một đêm cho Trung tâm tác quyền âm nhạc để trung tâm chuyển cho gia
đình Trịnh Công Sơn, trả cho gia đình Ngô Thụy Miên và Phú Quang cũng như vậy.
Ông Bình nói: “Trịnh Vĩnh Trinh vẫn đòi chúng tôi trả đúng 1
triệu đồng một ca khúc mà không nhận 72.000đồng một bài như người khác. Vừa rồi
tôi nhắn lại rằng gia đình ủy quyền cho ai thì để người đó đến Nhà hát làm việc
chứ sao lại làm việc qua tin nhắn. Hai bên có thỏa thuận nhưng thỏa thuận phải
dựa trên khung giá mà nhà nước ban hành. Tác phẩm sử dụng càng lâu thì giá càng
thấp xuống.
Nếu người ta không hát nhạc Trịnh nữa, đấy là thiệt thòi cho
anh Sơn và cả công chúng. Đất nước có nhiều nhạc sỹ, trong đó có cả những đàn
anh của Trịnh Công Sơn, họ đều vui vẻ nhận tiền qua Trung tâm bảo vệ tác quyền
âm nhạc. Trịnh Công Sơn không thể vượt luật!”.
Những người nào được hưởng tác quyền?
Tham khảo ở các nước, tỉ lệ tiền tác quyền âm nhạc được tính
30-40% trên tổng số doanh thu của một bản nhạc được khai thác. Ngoài tiền tác
quyền, số còn lại sẽ chia đều cho các bên tham gia phổ biến tác phẩm ấy (ca sĩ,
nhạc sĩ, hòa âm phối khí, nhà tổ chức).
Theo Luật sư Nguyễn Vân Nam - Công ty luật Nam Hùng - chuyên
về Luật sở hữu trí tuệ: "Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được
sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định", nhưng điều
này có áp dụng hồi tố vào thời Trịnh Công Sơn sáng tác không, là vấn đề cần
tính toán.
Bên cạnh đó, trong các tác phẩm âm nhạc của Trịnh Công Sơn,
liệu có trường hợp nào ông đã chuyển nhượng tác quyền của một hoặc một số tác
phẩm nào đó vào lúc ông còn sống không? Nếu có, những tác phẩm đó không thuộc
quyền thừa kế tài sản của người được luật định hưởng quyền thừa kế nói trên.
Hiện nay, chúng tôi cũng chưa có thông tin về những trường hợp này.
Như thế lại phát sinh một số “đồng tác giả” được hưởng quyền
lợi khi một bản nhạc được trình diễn chứ không chỉ có một mình nhạc sĩ sáng
tác.
Đồng tác giả Trịnh Cung xót xa
Trường hợp này có thể kể đến họa sĩ Trịnh Cung, người có hai
bài thơ được Trịnh Công Sơn phổ nhạc “Cuối cùng cho một tình yêu” và “ Thiên sứ
bâng khuâng”. Ông Trịnh Cung cho biết: “Khi Trịnh Công Sơn còn sống, một lần
anh đưa cho tôi 100 USD tiền tác quyền do một trung tâm ca nhạc ở Mỹ trả. Đó là
lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến nay, tôi được trả tác quyền lời thơ.
Trong nước, một vài lần tôi có hỏi, nhưng người ta cà khịa rồi lơ đi. Tôi cũng
nản rồi thôi luôn".
Trước những thông tin về việc một số sân khấu tạm ngừng biểu
diễn nhạc Trịnh, họa sĩ Trịnh Cung thở dài: "Nhạc Trịnh là một di sản quý,
nhưng không có nhạc Trịnh, các sân khấu âm nhạc đương thời vẫn sống khỏe bằng
những sáng tác “ấm ớ, thị trường”. Nếu vì ráo riết thu tác quyền mà làm mai một
một dòng nhạc đặc biệt như nhạc Trịnh liệu có đáng không?".
Có lẽ Trịnh Cung đã nói đúng. Không có nhạc Trịnh các phòng trà
ca nhạc Sài Gòn vẫn sống, phòng nào huy hoàng vẫn cứ huy hoàng. Các ca sĩ vẫn
chạy sô tưng bừng, không nhạc Trịnh thì có nhạc Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Đan
Thọ, Ngô Thụy Miên hoặc kiếm mấy ông nhạc sĩ Việt kiều ở hải ngoại là chắc ăn,
các ông này chẳng biết đâu mà kiện và có biết cũng làm lơ vì các ông ấy thừa
biết thế nào là luật rừng và thế nào là “kiện củ khoai”.
Những ý kiến khác của các bạn tôi ở nước ngoài
Trên đây chỉ là một số sự việc và dư luận để bạn đọc có thể
“nghe qua rồi bỏ” cái scandal đang xôn xao trong hầu hết các trà đình tửu quán
Sài Gòn, Hà Nội và các thành phố lớn ở VN.
Nhưng nó cũng cho thấy một vấn đề rất quan trọng là việc bảo vệ tác
quyền của các nghệ sĩ sáng tác bất cứ thuộc bộ môn nào.
Tôi điện thoại cho anh Huy Phương ở Cali, anh thẳng thắn nói
ngay rất đồng tình với việc đòi tiền tác quyền. Anh cho biết ngay ở Cali và
những tiểu bang lớn có nhiều người Việt ở Mỹ, cũng đã từng có những ban nhạc,
những ông bầu sô tổ chức ca nhạc, tiền tác quyền được ăn chia sòng phẳng nhưng
cũng có những buổi trình diễn nhạc Trịnh Công Sơn, song gia đình nhạc sĩ cũng
chẳng được đồng xu nào. Đó là một sự lợi dụng không thể chấp nhận.
Huy Phương còn nói thêm:
– Ngay cả những anh viết văn làm báo như tôi với anh, nhiều
khi bị lấy bài đăng ngang xương mà không hề hỏi tác giả lấy một câu. Thôi thì
anh là báo nhỏ, báo nghèo, anh trả tượng trưng cho tôi vài ba chục một tháng
cũng là quý hoặc một đồng danh dự cũng được. Hoặc anh nói với tôi một câu, tôi
sẵn sàng gửi bài cho anh đăng “chùa” ngay.
Đó cũng là chuyện của tôi. Tôi không mượn tiếng nói của anh
Huy Phương để nói về chuyện của mình. Tôi kể cho anh nghe một chuyện còn “vui
muốn chết”. Có một tờ tuần báo, không phải ở Mỹ, thản nhiên lấy bài của tôi đăng
hàng tuần. Nhưng bài này tôi đã dành cho một tờ báo ở địa phương đó đăng độc
quyền, tất nhiên là cũng chỉ độc quyền được đăng trước vài ba ngày, sau đó ai
muốn đăng sau cũng chẳng sao. Khi tôi yêu cầu tuần báo kia ngưng đăng bài của
tôi thì ông chủ nhiệm không trả lời và vài tuần sau, cũng chính tờ báo đó chụp
cho tôi cái mũ là công sản. Trường hợp thứ hai là có một hãng tin lấy bài hàng
tuần của tôi bán cho những tờ báo khác, trong khi tôi chẳng hề biết gì về việc
này. Kết quả là có 2 tờ báo ở hai tiểu bang nhỏ khác nhau, cho tôi biết tin là
họ đã mua được bài của tôi trên bản tin của hãng tin nọ, nên tôi không cần gửi
bài cho họ nữa, đồng nghĩa với việc không trả nhuận bút cho tôi nữa.
Nhiều bạn tưởng rằng bài của tôi đăng tùm lum ở các báo chắc
là nhuận bút nhiều lắm. Nhưng thực chất là chỉ có một số báo lớn, trả nhuận bút
rất sòng phẳng, còn một số “bạn ta” đăng chùa. Nhưng tôi có nói với anh Huy Phương”:
– Dù sao anh và tôi cũng không quên rằng các “bạn ta” thấy
bài anh có giá trị mới đăng chứ đâu phải bài nào cũng đăng. Anh cũng phải cảm ơn
họ và vui vì bài của anh được phổ biến rộng rãi hơn.
Huy Phương cười:
– Đồng ý rồi, đó cũng là một cách tự an ủi. Nhưng như tôi đã
nói, chỉ cần “bạn ta” nói với mình một tiếng là xong.
Tôi kể cho anh nghe một trường hợp khác. Có một trang web vẫn
thường lấy bài của tôi đưa lên net, đến dịp tết vừa rồi họ xin địa chỉ tôi để
gửi tiền nhuận bút. Nhưng tôi biết đó là trang web của một số cô cậu sinh viên
“ăn cơm nhà vác ngà voi” nên tôi không cho địa chỉ và thẳng thắn nói ngay tôi
yểm trợ những công việc tốt đẹp của họ. Rất có thể trang web này sẽ chứng minh điều
đó.
Chuyện văn học nghệ thuật và tiền bạc tế nhị lắm. Nêu không
khéo cư xử với nhau thì chẳng còn vui vẻ gì, làm sao làm văn học được? Tôi nghĩ
chuyện um sùm về tác quyền của nhạc Trịnh cũng nằm trong cách cư xử như vậy.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từ Cali nói gì?
Trong số bạn bè thường cộng tác với tôi trong loạt bài này,
tôi nghĩ anh Hoàng Thi Thao là người hiểu biết hơn chúng tôi để bàn về vấn đề
ca nhạc. Và anh cũng tỏ ra ngần ngại khi kể cho chúng tôi nghe về một vài “giai
thoại” trong lúc giao thiệp với Trịnh Công Sơn khi anh còn sống. Xin trích một
vài đoạn trong thư điện tử của Hoàng Thi Thao ngày 28-3 vừa qua:
“Tôi quen biết khá thân với gia đình TCS từ năm 1952. Lúc đó
khi mới viết xong một ca khúc nào đó thì TCS vẫn hát cho tôi nghe để biết cái
“ý” của bài hát và thường bàn với tôi là “nên để ca sĩ nào hát”. Thường là
Khánh Ly ưu tiên 1 rồi sau đến ca sĩ khác. Cũng có bài tôi đề nghị Lệ Thu và đặc
biệt có 1 bài TCS dành cho Carol Kim đó là bài “hãy khóc đi em”.
Vì Sơn không hợp lệ tình trạng quân dịch nên gần như hầu hết
các ca khúc của TCS do tôi đứng tên xin kiểm duyệt tại Phòng Kiểm Duyệt của Bộ
Thông Tin nằm trên đường Phan Đình Phùng. Như vậy trước năm 1975, nói về tác
quyền, phần nhiều ca khúc của TCS trên gấy tờ lại là của tôi! (Điều này có thể
kiểm chứng qua những hồ sơ cũ, và khi xét đến tác quyền thì cần phải có giấy tờ
chứng minh bản quyền của ai. Nhưng tất nhiên Hoàng Thi Thao sẵn sàng xác nhận đó
là quyền của TCS).
Theo tôi biết rõ TCS ít thắc mắc về tác quyền. Thấy ai ưa
thích nhạc mình và trình diễn dưới dạng nào (hát, hòa tầu, độc tấu) Sơn đều
hoan hỉ chấp nhận. Kể cả những người đã thay lời (ca từ) của Sơn để chọc cười,
anh đều vui vẻ nhắc lại. (Xin mở ngoặc, thí dụ: mình ngỡ nó đôi J, ai ngờ nó đối
xì, mình ngỡ nó hai đôi, ai ngờ nó ba con - dân xì phé thường thuộc lòng lời ca
này).
Tuy nhiên, tôi cũng hoàn toàn đồng ý về việc đòi tiền tác
quyền là chính đáng. Nhưng cách đòi thế nào cho hợp tình hợp lý lại là chuyện
khác. Tôi thành thật không muốn có những sự việc dẫn đến sự hiểu lầm là đi ngược
lại với nguyện vọng của TCS.”
Chỉ cần vài chai rượu hay một cái phong bì là đủ
Đó là lời kể của ông tu bíp Hà Xuân Du hiện ở San Jose. Ông
viết: “Tôi kể lại anh nghe một lời tâm sự của TCS, tôi nhớ hình như vào năm
1999 về vấn đề tác quyền. Sau dăm ba ly rượu, Sơn nói với tôi “lợi nhuận”, tôi
không dùng chữ tác quyền.
Anh Du biết không, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện đòi
tiền những ai dùng ca khúc của tôi, mà có muốn đổi chác cũng không được. Nếu có
ai hỏi xin phép tôi thì tôi rất hạnh phúc vì như vậy là họ đã “apprecier” và
tôn trọng mình rồi. Nếu họ tự động cho tôi một vài chai rượu hay một phong bì
thì tốt, không thì thôi. Tôi làm nhạc cho mình và cho đời, thế thôi. Trước đây
một người Nhật có làm một vài bài của tôi, (hình như Diễm Xưa, Biển nhớ, Ca dao
mẹ) và họ có trả tác quyền cho tôi, tôi cũng không nhớ là bao nhiêu nữa. Bây
giờ đọc lại những bài trên các trang web ở VN, tôi thấy dường như không giống
với những “tư duy” của Sơn mà tôi đã biết.
Và theo tôi biết thì những bài hát của TCS không bị kiểm
soát nên những chương trình biểu diễn hàng đêm ở các phòng trà, tụ điểm như
phòng tra Ân Nam của Lan Ngọc, ATB của Ánh Tuyết hay Tiếng Dương Cầm của Nguyễn
Ánh 9 thì chỉ có ông trời mới biết đếm ấy họ hát bao nhiêu ca khúc của TCS. Hơn
thế, ví dụ như Lan Ngọc mỗi đêm hát 3 bài của TCS thì đi đoong 900 ngàn, trong
lúc phòng trà và ca sĩ chỉ thu lượm bạc cắc thì đóng cửa về quê hưởng nhàn cho
xong”.
Một điều duy nhất đúng
Trên đây là những nét chính về dư luận vụ ồn ào gia đình
Trịnh Công Sơn đòi tiền tác quyền, có thể là một scandal có liên quan tới văn
học nghệ thuật khá mới mẻ tại Việt Nam. Bản thân nó không phải là văn học nghệ
thuật. Một vụ đã đưa dẫn tới nhiều dư luận trái ngược, chỉ có một điều duy nhất
mọi người có thể đồng tình với nhau là sự tôn trọng quyền sáng tạo của người
làm văn học nghệ thuật. Nhưng tôn trọng như thế nào và cách đối xử với nhau là điều
phải đặc biệt chú trọng.
Chuyện lẩm cẩm này còn kéo dài và kết quả của nó ra sao đều
tùy thuộc vào sự hiểu biết, cách hành sử của những người có liên quan tới việc
trả tiền tác quyền hay không, trả bao nhiêu là vừa. Nói theo kiểu buôn bán giữa
đời thường thì “kẻ bán người mua” đều có thể thương lượng với nhau theo từng trường
hợp. Con tôm nào to, con cá nào bé, giá cả bao nhiêu, thị trường chung và ngay
cả nhà nước cũng không thể nào quyết định được. Chúng ta chỉ còn cách hãy chờ
xem “hậu sự” ra sao.
Liệu đây có phải là một kết luận buồn cho nhạc
Trịnh?