
(Những đụn cát trên sa
mạc Namib trông im lìm bất động, nhưng thực sự có di động và thay đổi theo thời
gian - ảnh: Andreas Vogler/free-photo-download.com.)
Hồ Sĩ Viêm
Người Ai cập, với
trên 53 triệu dân, sống chen chúc hai bên bờ của giòng sông Nile. Họ bị bao vây
chung quanh bởi vùng sa mạc rộng lớn chiếm tới 96 % lãnh thổ.
Cả 4.000 năm cận
kề với biển cát, họ vẫn không hiểu được sa mạc, vẫn thấy ẩn dấu trong đó biết
bao nhiêu sự kỳ bí, với tương lai chợt đến, chợt đi, như những đụn cát đồ sộ như
những trái núi, đứng sừng sững đó, nhưng một sớm một chiều lại biến mất. Nhiều
làng đang sống yên vui bỗng đột nhiên bị xóa hẳn, như chìm sâu trong lòng cát,
không còn để lại một chút vết tích. Xưa kia, vua Ba Tư phái một đoàn quân
50.000 người sang chinh phạt xứ Siwa. Họ rầm rộ đi xuyên qua sa mạc, nhưng
rồi... để mất tích toàn thể trong đó. Không một ai còn nhìn thấy, còn nhận được
chút tin tức về họ. Có lẽ bão cát đã chôn vùi đoàn quân ấy dưới những đụn cát
khổng lồ.
Các nhà thám hiểm và
những người từng có dịp qua lại vùng sa mạc Sahara đều tả lại quang cảnh miền
này, là những dãi cát dài như đồi núi, có cái đỉnh cao tới 660 bộ và chạy dài
cả hàng trăm dặm đường, nhưng có những dãi cát lại thấp, chỉ cao vài chục thước
đã chập chùng nhấp nhô như những đợt sóng biển trãi dài đến tít chân trời. Đó
là những đụn cát trông thật đẹp và hùng vĩ, tưởng chừng như hình dáng đó muôn đời
bất diệt, mãi mãi trơ trơ cùng năm tháng. Nhưng thực ra, chúng thường xuyên di động
và luôn thay đổi hình dáng. Người ta đã thấy, nay đụn cát này cao hơn đụn kia,
nhưng một thời gian sau lại ngược lại. Rồi, hôm nay ta nhận thấy một đụn cát có
hình dáng này. mai nó lại đổi thành hình dáng khác. Và... có đụn lại biến mất
luôn, để lại một mặt cát phẳng lỳ. Tóm lại mặt biển chuyển động thay đổi như
thế nào, thì mặt cát sa mạc cũng thay đổi như vậy nhưng với thời gian lâu dài hơn.
Lý do sự thay đổi này là vì gió, gió miên man thổi suốt năm tháng không bao giờ
ngưng, cộng thêm với gió lốc và bão cát.
Nói về bão cát, trên
biển cả bao la người thủy thủ sợ giông bão như thế nào, thì người đi trên sa
mạc cũng sợ bão cát như vậy. Lúc bão, gió cuốn cát tung lên mù mịt, làm người
ta không còn nhìn thấy gì và những hạt cát bắn vào người mạnh như muôn ngàn kim
chích găm vào da thịt đến chảy máu. Cát luồn vào trong quần áo, vào mắt, vào
mũi, vào tai rất xốn xang. Lúc đó người ta chỉ biết gục xuống, lấy vải, mền,
che kín thân thể và hy vọng rằng cơn bão mau qua. Còn nếu bão dai dẳng, thì
phải đành chịu chết, vì có khi cát phủ trùm cao cả vài chục thước, thì người và
vật đều bị ngạt thở và bị đè dưới sức nặng của cát quá lớn. Theo sử sách có ghi
lại, vào năm 524 trước Tây lịch, vua Cambyses Đệ Nhị của nước Ba Tư căm giận về
sự dấy loạn của dân chúng ốc đảo Siwam trong sa mạc, nên phái một đoàn quân gồm
50.000 người đến địa phương này dẹp loạn và trừng trị. Đoàn quân đã vào sa mạc,
rồi không bao giờ còn thấy trở về nữa. Họ đã gặp một cơn bão cát dữ dằn và bị
chôn vùi toàn thể dưới những đụn cát khổng lồ, hoàn toàn mất tích cho đến ngày
nay.
Xứ Ai cập rộng
386.900 dậm vuông, mà trên 53 triệu dân chỉ sống chen chúc và canh tác trên
mảnh đất ven hai bên bờ sông Nile, với diện tích 15.476 dậm vuông, tức chỉ bằng
4% lãnh thổ. Còn tất cả đều là sa mạc. Ai cập còn có thêm một số ốc đảo, trong đó
có 6 ốc đảo chính lớn rộng, sống mỗi nơi khoảng vài ba chục ngàn dân, là
Faiyum, Siwa, Bahariya, Farafra, Dakhla và Kharga. Tuy nhiên những ốc đảo này
lại thường trực bị đe dọa vì cát xâm lấn. có một trường hợp đã xẩy ra cho một
ốc đảo nhỏ tên là Ginah. Người dân tại đăy qua hàng chục năm sinh sống yên ổn
bằng nghề chăn nuôi dê, cừu, lạc đà và trồng trọt chút ít trái cây, rau cỏ.
Bỗng nhiên vào cuối thập niên 1960, một cơn bão cát đã di cái đụn cát khổng lồ
gần đó, đè chận lên ngôi làng Ginah nhỏ bé, thành một nắm mồ to lớn, vĩnh viễn
chôn vùi nhà cửa, người dân, gia súc dưới lòng cát.
Ngày nay, theo nền văn
minh tiến bộ, chính quyền Ai cập có xây những con đường nhựa xuyên qua sa mạc
và giăng mắc những đường điện thoại, hầu dễ dàng cho sự giao thông và liên lạc.
Nhưng muốn bảo trì và tu bổ cho phương tiện văn minh này thật khó khăn, vì cát
luôn luôn phủ trùm lên con đường, nên xe cộ đi được từng đoạn phải dừng lại để
xúc cát. Còn những cột điện thoại, từng ngày cứ như từ từ lún xuống và mặt cát
leo cao dần, muốn chôn luôn cả dây điện. Nhiều người dân sa mạc đã lắc đầu xác
nhận, “Trên sa mạc không thể có gì là vĩnh viễn. Chỉ sống như người du mục
Bedouin, nay đây mai đó, không một nơi nào cố định, là hợp lý”.
Những ốc đảo phần lớn
đều ở dưới những thung lũng, nơi này có những mạch nước đọng lại dưới lòng sâu
và phun lên thành những hồ ao và làm ẩm đất nên cây cối có điều kiện mọc lên um
tùm như miền nhiệt đới. Tuy nhiên tại sa mạc Sahara, về miền Tây có một vùng
thật đặc biệt gọi là Qattara. Vùng đất này ở thấp nhất trong sa mạc Sahara, sâu
tới 435 bộ so với mực nước biển và rất rộng chiếm tới 5.800 cây số vuông. Tuy
nhiên người và thú vật lại rất khó sống trong vùng này vì là nước muối mặn và đầy
rẫy những vũng lầy (quicksand), ai lỡ bước vào là bị chìm sâu trong lòng cát.
Tuy nhiên chính phủ Ai cập đã có dự án để lợi dụng vùng đất thấp Qattara. Họ
cho thiết lập một hệ thống ống dẫn nước biển từ Địa Trung Hải cho chảy vào
Qattara. Vì mức đất cao thấp khác nhau, nên nước biển sẽ ồ ạt chẩy. Với lưu lượng
nước chẩy, Ai cập cho thiết lập những nhà máy điện có thể sản xuất hàng năm tới
5,2 tỉ kilowatt-giờ điện lực, để cung cấp cho dân chúng và cho các nhà máy sử
dụng. Người dân tại vùng sa mạc còn tin tưởng rằng, song song với dòng sông
Nile còn một con sông chảy ngầm dưới lòng đất tại vùng sa mạc miền Tây. Nếu tìm
thấy được con sông này nhiều vùng đất trong sa mạc sẽ được khai khẩn, trồng
trọt và làm cho các nước trong vùng được phồn thịnh. Ngày nay những túi dầu hỏa
mênh mông dưới lòng cát cũng đã khiến các nước vùng sa mạc trở thành trù phú,
giàu có, khác với cảnh khổ họ chịu đựng cả nhiều ngàn năm qua.

(Đền thờ Hồi giáo
Mecca trong Vương quốc Ả Rập giữa sa mạc - ảnh: LSQ Vương quốc Ả Rập.)
Từ đầu thế kỷ thứ 20,
các nhà khoa học đã để ý nhiều đến các vùng sa mạc, nhất là sa mạc Sahara, mà
từ xưa người ta cho là vùng đất chết. Từng đoàn thám hiểm đã nối tiếp nhau,
xông xáo vào sâu vùng biển cát nóng bỏng, để nghiên cứu về sa mạc và tìm hiểu
con người đã sinh sống tại nơi đây từ thời gian nào. Nhờ những khám phá họ đã
biết rằng, xưa kia miền Sahara không phải là sa mạc, mà là vùng đất có cây cối
xanh tươi, có sông, có rừng và nhiều sinh vật đã từng hiện diện nơi này. Sự
khám phá quan trọng nhất là vào năm 1933, một đoàn thám hiểm người Pháp khi đến
vùng Tassili thuộc miền núi Hoggar, phía Nam nước Algeria, đã vô tình tìm thấy
hàng ngàn bức hình ghi khắc hoặc vẽ trên vách đá. Nguyên vùng Tassili này có
những ngọn núi mà qua nhiều thế kỷ bị cát thổi xoi mòn, đánh nhẵn, thành những
hình thù trông rất lạ. Chính từ một vách núi đưới sâu trong thung lũng, người
ta đã tìm thấy những bức hình ghi khắc lại những giống thú và người về hồi đó.
Các hình vẽ, nhiều bức rất đẹp, trông linh hoạt, sống động và mầu sắc dù qua
nhiều ngàn năm vẫn giữ được tươi tắn như hồi nguyên thủy, do khí hậu khô ráo
miền sa mạc. Bức vách được vẽ dài và rộng tới 250 bộ vuông, dược coi như là bức
tranh tiền sử dài rộng nhất thế giới. Có những bức hình ghi lại hình ảnh những
người đi săn, những gia súc chăn nuôi, những người lính chiến đấu và những vũ
công. Lại có những bức hình vẽ những người đàn bà, những trẻ con và rất nhiều
thú vật. Những con thú này ngày nay vẫn hiện diện trên trái đất, nhưng ở miền
nhiệt đới, khí hậu nóng nhưng có mưa, để thức ăn của chúng được sinh sôi nẩy
nở. Đó là những con trâu và bò (Oxen), rồi những con nai, con hươu cao cổ, con
dê, đồng thời với voi, tây giác, cá sấu và hà mã.
Ở dưới chân núi các
nhà khoa học còn tìm thấy vết tích của thời văn minh nhân loại tìm sống bên
cạnh các giòng sông. Đó là một tàn tích một làng đánh cá với những xương cá còn
sót lại, cùng với vỏ ốc, vỏ sò. những con vật chỉ sống ở dưới nước. Như vậy,
tức có một dòng sông đã từng chẩy qua đây. Rồi nữa trên độ cao khoảng 6.000 bộ
người ta tìm thấy bộ xương hóa thạch của con hà mã cùng dấu vết một chiếc
thuyền thô sơ. Nguyên cứu kỹ lưỡng những vết tích này, các nhà khảo cổ tin tưởng
rằng những người vẽ đã thuộc 4 nền văn minh khác nhau. Nền văn minh thứ nhất
thuộc về thời kỳ 8 ngàn năm về trước. Đó là những người chuyên về săn bắn. Tuy
không tìm ra một lóng xương người nào, nhưng các nhà khoa học tin tưởng rằng người
đầu tiên sống ở sa mạc là giống người Negro.
Sa mạc bắt đầu trở
thành khô khan vào thời kỳ băng hà vừa chấm dứt. Thời đó đất đai còn phì nhiêu
hơn cả những ngày đầu của kỷ nguyên đấng Christ. Thời gian sau 8.000 năm, nơi đây
còn rất nhiều nước, có cá sấu bơi lội và cây cối mọc xanh tươi như miền nhiệt đới.
Ba ngàn năm sau đó, nền văn minh thứ tư xuất hiện, vì những hình vẽ đã ghi khắc
con người biết trồng trọt và chăn nuôi. Họ đã biết vãi hạt giống, nấu ăn trong
những chiếc lò nặn bằng đất sét, cũng như lấy xương dùng làm kim may. Thời gian
này đàn bà đã biết dùng cọng lúa kết lại làm đồ trang sức và mài vỏ trứng đà điểu
thành xâu hột để đeo. Đôi khi họ sống trong các hang động, nhưng cũng có nhiều
người đã biết dùng lá cây làm lều, hoặc chát đất sét thành túp nhà để trú nắng
mưa.
Vào khoảng năm 3.000,
thời kỳ đầu tiên có lịch sử ghi chép, một giống người mới đã xâm nhập vào vùng
Sahara. Theo hình vẽ thì giống người này có tóc ít rậm rạp hơn giống người ở trước.
Họ tới đã mang theo những bầy gia súc thật nhiều, thật lớn và có cả chiếc xe
thô sơ đầu tiên của nhân loại. Những bức hình về thời này đã chia hẵn giống
trâu bò thành hai loại khác biệt. Một giống có sừng cong vòng về phía sau và
giống sừng nhọn hoắt chỉa thẳng về phía trước. Loại sau này ngày nay còn sinh
sôi nẩy nở nhiều tại Phi Châu. Như vậy trong thời kỳ này vùng Sahara vẫn xanh
rờn cây cối, thì các giống vật mới có thức ăn để sống. Nhưng sau thời gian này
không lâu, đất đai trở thành khô cằn, tuy chưa hẳn thành sa mạc, nhưng bắt đầu
khó sống. Thời văn minh thứ tư được ghi lại bằng hình ảnh những chiếc xe đua do
ngựa kéo và những kỵ mã. Đây có thể là thời người La Mã xâm nhập vào miền đồng
bằng Sahara. Tất nhiên Sahara còn có đồng cỏ để ngựa La Mã có thể ăn để sống.
Rồi
khí hậu Sahara trở thành khô nóng, cây cỏ chết hết và người phải tìm cách di
chuyển đi nơi khác. Họ không còn dùng ngựa nữa và chuyển qua lạc đà. Chính người
La Mã đã đầu tiên mang lạc đà vào vùng biển cát thiếu nước này, giúp rất nhiều
cho sự giao thông cũng như vận chuyển. Nhưng qua nhiều năm tháng, vì quá khổ
cực, thiếu thốn, nhóm những người này cứ
ít dần, rồi một số tìm được các ốc đảo. Họ đã tụ tập lại để chăn nuôi và
trồng trọt quanh những dòng suối, hoặc nhũng ao hồ, hoặc những giếng nước vừa đào
được. Nhưng những ốc đảo quá nhỏ, nên một số đông người đã phải ra đi, theo nếp
sống du mục, lang thang đuổi đàn gia súc nay đây mai đó, tìm được chỗ có nước,
có cây cỏ, thì dừng chân đôi chút. Khi nơi này hoàn toàn kiệt cạn cả nước lẫn lương
thực, họ lại cất bước ra đi tìm một nơi khác để dừng chân, sống một cuộc đời
thật vô định. Ngày nay theo sự tiến triển của khoa học, người ta đã lấy chất
cặn bả trong những giếng dầu hỏa, phun lên trên mặt cát, làm những đụn cát vừa
không di động được, vừa giữ được hơi ẩm. Do vậy người ta đã trồng trọt được
trên những vùng thật khô khan trước đây. Đời sống những người dân sa mạc đã có
phần dễ thở