
(Vi khuẩn cúm heo Loại A/H1N1)Hồ Sĩ Viêm
Cả thế giới trong vòng một tháng qua hốt hoảng, lo sợ vì
dịch "cúm heo" do vi khuẩn H1N1 gây ra, bắt đầu từ Mễ Tây Cơ.
Trường hợp đầu tiên bị nhiễm cúm ở Mễ được phát hiện ngày
2-4-2009, đến nay khắp thế giới đã có gần 5.000 người bị nhiễm loại vi khuẩn
này, và hơn 50 người đã thiệt mạng.
Không nói gì đến những thời kỳ thật xa xôi, dựa theo lịch sử
nhân loại trong vài thế kỷ gần đây, người ta nhận thấy thỉnh thoảng ông Trời lại giáng họa xuống Trái Đất một vài loại vi
khuẩn quái dị và lạ hoắc, thường gây ra bệnh tật, giết hàng loạt người và súc
vật.
Bệnh cảm cúm đầu thế
kỷ thứ 20 giết hại cả 27 triệu người
trên toàn thế giới
Đây là một thứ bệnh thông thường mà ai trong chúng ta thường
mắc phải. Ta hay gọi chúng là cảm cúm, hay flu hay tên khoa học là Influenza.
Hàng năm, bắt đầu vào Đông, chúng hay phát xuất ở nhiều nơi, tuy nhiên không đồng
đều, có lúc quốc gia này bị nhiễm nặng, quốc gia bên cạnh lại không và thường
thường người ta hay lấy tên quốc gia có bệnh này đầu tiên trong năm đó, mà đặt
tên cho bệnh. Giả dụ như đã từng có Bệnh “Cảm Cúm Hồng Kông”, “Cảm cúm Miến Điện”,
v.v.. Bệnh lan truyền rộng do một loại vi khuẩn thật nhỏ, như một phần bé tí
của tế bào đơn giản và ăn bám vào các tế bào lành mạnh của con người. Các vi
khuẩn này xâm nhập vào cơ thể con người do đường mũi, mồm hay cả mắt và tay có
vết đứt mà đụng vào người bệnh hay đồ vật của họ. Khi nhập vào được cơ thể rồi
chúng sẽ tấn công vào các tế bào lành mạnh và từ đó chúng sẽ tự chia, sinh sôi
ra hàng trăm, ngàn vi khuẩn mới. Khi tế bào lành mạnh đầy ắp các vi khuẩn, tự
nó sẽ vỡ ra và tung số vi khuẩn lớn lao đi khắp nơi, lây truyền cho người khác
và bắt đầu làm lại một cuộc sống mới, sinh sôi thêm lên và bành trướng mạnh mẽ.
Vi khuẩn Influenza không phải chỉ có một loại, mà nhiều thứ, do vậy những người
chích ngừa, hàng năm vẫn phải chích lại. Tuy nhiên, khi chích ngừa dù sao cũng tạo
cho cơ thể mình một thứ miễn nhiễm, do vậy có bị cúm cũng bị nhẹ và chóng khỏi.
Vào đầu thế kỷ thứ 20, cùng với những bệnh như ho lao, sưng
phổi, bạch hầu (diphtheria), cảm cúm đã giết hại dân Mỹ không phải là ít. Nhưng từ khi có những thuốc
chích ngừa, số tử vong về các chứng bệnh trên đã giảm sút thấy rõ. Điển hình là
vào năm 1918, nước Mỹ bị một trận dịch cảm cúm, mà chỉ trong vòng một tuần lễ đã
có tới 21.000 người bị chết.
Nguyên vào hồi tháng 8 năm đó, một chiếc tàu mang cờ hiệu Na
Uy tên là Bergensfjord nhập vào Bến cảng Brooklyn của thành phố Nữu Ước. Con
tầu lúc ấy, trên quảng đường vượt Đại
Tây Dương đã có 100 hành khách bị ốm và có 4 người bị chết. Nạn nhân thứ 5 của
con tàu mang mầm bệnh Influenza đang hoành hành trên toàn miền Âu Châu, là chính một người Mỹ có phận sự lên quan
sát trên tàu. Thế rồi không lâu sau đó, chứng bệnh cảm cúm quái ác đã lan tràn
mau chóng làm cho toàn dân Mỹ kinh hoàng khiếp đảm. Lúc bệnh dịch bộc phát
mạnh, riêng chỉ trong một ngày cả trên 100 người thuộc 2 thành phố Nữu Ước và Boston, bị thiệt mạng. Nạn nhân
của thành phố Philadelphia còn nhiều hơn, trong 24 tiếng đồng hồ, có tới 528 người
bị mệnh vong, đến nỗi người ta không thể làm đuợc đám ma riêng rẽ, mà phải dùng
một chiếc xe trần do ngựa kéo, để chở xác người đi chôn. Trong khi đó chỉ trong
một ngày Thứ Năm buồn, thành phố Chicago có tới gần 400 người lìa trần. Các trường học, các nơi giải trí đều bị đóng
cửa hầu như tại khắp các thành phố. Không người phục dịch săn sóc bệnh nhân,
nhiều nữ sinh viên của các Trường Đại học đã phải tình nguyện làm việc tại các
bệnh viện. Khắp nơi nơi, người ra đường đều phải dùng khẩu trang, hoặc dùng khăn
bịt miệng, để tránh bị lây bệnh.
Có 3 người lính Mỹ bị nhiễm bệnh và một người từ trần. Tổng
thống Mỹ hồi đó là Woodrow Wilson đang có dự định đáp tàu chiến, bằng đường
thủy sang thăm Âu Châu, nhưng thấy binh
lính trên tàu bị mắc bệnh nhiều, nên ông phải hủy bỏ chương trình này. Tổng kết
lại, chỉ trong vòng có mấy tháng, trên toàn
thế giới, bệnh Flu 1918 đã hoành hành và giết hại tới 27 triệu người, hơn cả số người bị chết trong
kỳ Đệ Nhất Thế chiến ngày đó.

(Một nhà khoa học đang nghiên cứu sự phát triển của vi khuẩn
cúm)
Người ta tự hỏi, bệnh Influenza 1918 đã phát xuất từ đâu?
Khôi hài thay, sau nhiều cuộc nghiêu cứu, nhiều người lại cho rằng, có thể bệnh
Flu 1918 đã phát xuất tại Hoa Kỳ. Người ta kể lại rằng, vào khoảng tháng 3 năm
1918, bệnh cảm cúm bùng nổ đầu tiên tại một Trại Quân Đội Mỹ ở Kansas. Sau đó không lâu, đoàn quân Mỹ đã
sang Pháp, để giúp dân tộc này chống lại Đức Quốc. Vô tình lính Mỹ đã gieo rắc
vi khuẩn cảm cúm 1918 sang nước này. Rồi với những cuộc hành quân rầm rộ kéo từ
nơi này qua nơi nọ, đã làm lan tràn nhanh chóng bệnh cúm đi khắp nơi. Ngành Y
Tế có cố gắng hoạt động để ngăn chặn bệnh dịch, nhưng vô hiệu quả.
Thế rồi đến đầu năm 1919, bệnh cảm cúm tự nhiên được chấm
dứt một cách kỳ lạ. Chẳng một ai hiểu tại sao? Nhiều người yêu đời đã cho rằng, một bà Tiên Nhân từ đã
dùng đôi đũa Thần, âm thầm diệt trừ hộ nhân loại mọi con vi khuẩn cảm cúm độc
ác, giết người không nương tay và không thương hại.
Sơn ăn từng mặt, ma bắt từng người
Sau khi bệnh dịch cúm biến mất, người ta thở phào nhẹ nhõm
và bình thản kiểm điểm lại, ai còn ai mất và tự hỏi, tại sao mà mình lại sống
sót. Lúc bấy giờ nhiều người mới nhớ lại truờng hợp của bà Mary Mallon, cũng là
người Nữu Ước, mà trước đây 12 năm, đã
từng giết rất nhiều người, làm dư luận thật xôn xao, nhưng người ta không tìm
ra nguyên nhân, cũng như không thể nào liệt kê bà Mary là một tội phạm.
Quả thế, vào năm 1906, bà Mary Mallon chỉ là một người đầu
bếp, có đôi chút nhan sắc, nhưng tính tình hiền lành, có thể nói là tốt, vì
luôn luôn vui vẻ và hay giúp đỡ mọi người. Bà chỉ có một tội, là khi bà làm
việc cho một gia đình nào, là gia đình đó sớm muộn gì cũng có một số người lăn đùng
ra chết vì bệnh thương hàn.
Một ngày đó, bà được một gia đình giầu có tại Nữu Ước thuê
làm đầu bếp nấu nướng cho họ trong một mùa Hè. Nhưng mới được vài ba tuần lễ,
cả 6 người trong gia đình đều bị bệnh
thương hàn, sốt liên miên, nằm một chỗ, rồi sau một tháng đều từ giã cuộc đời. Được
báo cáo, Sở Y Tế Thành phố liền phái một cán sự tên là George A. Soper, đến tận
nơi để điều tra. Thăm hỏi căn kẽ những người chung quanh, Soper được biết, sau
khi 6 người này ngã bệnh, thì bà Mary đã bỏ việc và rời khỏi chủ nhàra đi từ 3
tuần lễ rồi. Thấy sự việc đáng nghi ngờ, Soper liền theo dõi và thấy Mary đã
thay đổi chỗ làm luôn luôn, trong một tháng mà bà ta đã làm cho tất cả 5 gia đình
và khi rời khỏi, thì nhà nào cũng có người bị bệnh thương hàn. Hồi đó các nhà
bác học Đức vừa tìm ra đuợc một chứng cớ, chứng minh rằng, một con người có thể
biến thành một vật xúc tác, tức là mang một chứng bệnh, mà bệnh đó không phát
tác được vào cơ thể của chính mình, vì trong người có sự miễn nhiễm mạnh. Tuy
nhiên, con vi trùng của bệnh đó lại coi người này là vật xúc tác, để tự phát triển mạnh, rồi nhẩy sang truyền bệnh
cho một nạn nhân khác. Có thể Mary không hiểu được tình trạng của mình, nên khi
thấy Soper nhờ cảnh sát ập vào bắt, Mary đã chống cự lại và kêu ca là mình oan
uổng, nhưng bà cũng tự thú nhận về sự ngạc nhiên, khi thấy mình đi đến đâu, người
ta bị bệnh đến đó.
Đứng trước Tòa án, mặc dầu Mary kêu xin mình vô tội, nhưng
chứng cớ rành rành, thân mình Mary luôn luôn mang mầm mống một loại vi trrùng
có tên là Salmonella Typhosa, loại vi trùng sinh ra bệnh thương hàn. Do đó Tòa
lên án Mary bị giam lỏng trong hai năm
tại một nhà thương nằm riêng biệt bên bờ sông phía Đông của thành phố Nữu Ước.
Nhưng, có một số người thương cảm cho số phận đáng thương của bà ta, nên quyết
liệt tranh đấu bênh vực cho Mary. Cuối cùng Tòa đành tha bổng, với một điều
kiện, từ bây giờ trở đi, Mary bắt buộc phải rời xa bếp núc, không được làm nghề
nấu ăn nữa.
Nhưng, ham mê về nghề nghiệp sẵn có, Mary lại lén lút đi nấu
ăn và hết sức tránh né mọi sự để ý của chánh quyền. Kéo dài cuộc đời lẩn trốn được
5 năm nữa, nhưng trong thời gian ngắn ngủi đó, Mary cũng đủ reo tai họa chết
chóc về bệnh thương hàn cho trên 50 người nữa, cho đến khi bà bị bắt lại. Lần
này bà ta bị giam hãm vĩnh viễn tại một nhà thương, có một phòng riêng biệt để
ở và thỉnh thoảng cũng có một việc làm tại phòng thí nghiệm. Tuy nhiên trong
giờ ăn, bao giờ bà ta cũng phải ngồi ăn riêng một mình. Đến năm 1938, Mary từ
trần vì một cơn đau tim, hưởng thọ được 70 tuổi trong một cuộc đời thật hi hữu.
Một dịch cúm nhắm giết hại giống ngựa
Vào năm 1872, một dịch cúm Influenza chỉ nhắm giết hại giống
ngựa, nhưng cũng đã làm cho con người nhiều điêu đứng. Đó đúng là một thiên tai
thảm khốc Trời giáng xuống các thành phố và thị trấn tại Mỹ. Ngày ấy, người ta chưa chế ra được nhiều máy móc,
nên mọi sự chuyên chở và di chuyển tại các đô thị người ta đều nhờ đến sức
ngựa. Những xe chuyên chở công cộng trong thành phố phải nhờ đến ngựa kéo. Việc
đi giao những hàng hóa nặng cũng cần đến ngựa. Mọi hoạt động trong thị trấn muốn nhanh chóng, đỡ vất vả cho con người, sự giúp đỡ
của ngựa là cần thiết. Ấy vậy mà vào ngày đó, một trận dịch cúm ngựa (Equine
Enfluenza), một sớm một chiều, đã cướp đi hầu hết loài ngựa, làm con người sính
vính, bó tay, không biết xoay sở làm sao.
Bệnh phát xuất từ Gia Nã Đại, rồi lan truyền nhanh chóng
xuống miền Nam, đến tận Louisiana, rồi bành trướng thêm sang cả miền Tây. Đầu
tiên chỉ có ít con ngựa chết, nhưng sau đó không lâu, mỗi ngày cả 200 con ngã
gục cùng lúc tại Philadelphia. Đến lúc bệnh bốc phát mạnh mẽ nhất, tại thành
phố Nữu Ước 18,000 con ngựa đều bị ốm, thật yếu đuối không thể còn làm việc được.
Miền Rochester, miền thị trấn đang hoạt động nhộn nhịp và phát đạt đến thế, mà
nay vắng tanh, lạnh ngắt không còn thấy một bóng ngựa. Mọi xe kéo bằng ngựa đã
ngưng nghỉ. Tại nhiều thành phố, người ta đã thử lấy bò thay cho ngựa, nhưng
những con vật này chậm chạp và móng lại mềm xìu không chống đỡ nổi sức nặng của
càng xe, nên người ta phải bỏ ý định đó. Thấy một số đông thanh niên còn thất
nghiệp và một số lớn vô thủ, vô thực không công ăn việc làm, người ta phải mướn
để tạm thời thay ngựa kéo xe. Không ngựa, mọi công việc xây cất phải ngưng trệ,
vì người ta không chở đủ vật liệu. Mọi chợ búa, nhà hàng ăn, phải nhờ đến sức
người vác từng bao, những thùng nhỏ, nên luôn luôn thiếu hụt nhiều thứ cần
thiết. Lo sợ nhất là Sở Cứu hỏa thành phố, vì không có ngựa, mọi xe vòi rồng đành
nằm im bất động. Quả nhiên một trận cháy kinh hồn đã xẩy ra tại Boston, mà nhóm
lính cứu hỏa phải bó tay chịu trận, mặc cho ngọn lửa tự do tung hoành, đốt cháy
rụi cả 67 mẫu cỏ dại bao quanh, chút xíu nữa hỏa thiêu luôn thành phố.
Cả mấy tháng sau nữa, loài ngựa mới khỏi bệnh. Tìm hiểu
nguyên nhân, người ta đưa ra nhiều luận cứ, nào ngựa ăn phải thứ gì không hợp
mà sinh ra bệnh. Có người lại cho rằng, ngựa đã thở nhằm phải một thứ khí độc
nào đó mà bị bệnh. Ngày nay người ta biết rõ, bệnh influenza của ngựa là do một
thứ vi khuẩn sinh ra, nhưng từ ngày đó, rút kinh nghiệm để tránh khỏi bị du vào
tình trạng khó xử như trên, người ta gắng công tìm tòi cho ra một thứ gì có thể
thay thế cho ngựa.
Xuất hiện loại vi khuẩn mới “HIV” sinh ra bệnh “AIDS”
Theo chiều dài lịch sử, người ta cứ thấy, mỗi khi thiên
nhiên sinh ra một loại vi khuẩn mới nào, thì các nhà bác học lại cố tìm cho ra được
một thứ thuốc để chữa, trị được bệnh đó.

(Siêu vi khuẩn HIV)
Tuy nhiên, trong sự so găng giữa thiên nhiên và con người,
sự núng thế càng ngày càng nghiêng về con người đã thấy rõ, vì vi khuẩn HIV
sinh ra bệnh AIDS xuất hiện từ gần 10 năm qua mà đến nay, con người chưa tìm được
thuốc chữa, cũng như vi khuẩn bệnh cúm heo đang tung hoành khắp đó đây trên
hoàn cầu, màta vẫn chưa tìm ra được thuốc ngừa, cũng như thuốc chữa.
Nói về bệnh AIDS, chữ viết tắt của tên bệnh dài “Acquired
Immune Deficiency Syndrome” tức là một thứ bệnh làm mất sự miễn nhiễm, một khả
năng kháng cự từ trong cơ thể, sinh ra bởi một loại vi khuẩn HIV, tên gọi
tắt của “Human Immunodeficiency Virus”.
Từ khởi đầu người ta đoán rằng vi khuẩn HIV phát xuất từ con khỉ xanh tại rừng
Phi Châu. Nhưng sau được biết bệnh được
lan tràn do sự giao cấu nhục dục. Vậy
giữa con người và khỉ làm sao mà lại có sự giao thiệp mật thiết. Do vậy nguyên
nhân đó còn bị gác lại chờ xét lại sau. Còn về thuốc, tuy một số nhà bác học đã
tìm ra được thuốc chữa, nhưng giá thành còn quá đắt, nên chưa được phổ biến
rộng rãi. Thiên nhiên còn giữ trong tay những sự bí mật, chưa để lộ nhiều.
Bệnh SARS còn nằm trong sự bí ẩn
Bệnh SARS lộ diện tại Trung Hoa từ tháng 11 năm 2002 và
triệu chứng của nó không khác bệnh cảm cúm là bao, tuy có ho nhiều, sốt cao và
khó thở. Trung Cộng vừa thay đổi cấp lãnh đạo chưa được bao lâu, còn găng nhau,
kèn cựa, lấn đoạt nhau quyền hành, nên đầu tiên coi thường cái bệnh cảm cúm
xuềnh xoàng và tự hào dân nước mình từng có những Hoa Đà, Biển Thước chữa bệnh
như Thần, chỉ cần búng tay, cân vài thang thuốc là bệnh gì cũng khỏi. Nhưng trớ
trêu thay, mới đầu chỉ vài ba người bị bệnh
tại tỉnh Quảng Đông, nhưng sau một thời gian ngắn đã lan tràn tới một
vài trăm người. Rồi bệnh phấn khởi, nhún một bước nhẩy vọt lên tận Kinh Thành
Bắc Kinh và tại đây với số dân đông nghẹt, nó tha hồ tung hoàng. Phút này nó
ngoắc tay đưa phắt linh hồn một người lên tận trời cao cho về cùng ông bà ông
vải. Phút sau nó lại thẳng tay đẩy mạnh linh hồn một người khác cho đi tàu suốt
về âm phủ, để cho người này hồ hởi phấn khởi gặp lại cựu Chủ Tịch Mao Trạch Đông,
mà học thêm tư tưởng của người cựu lãnh đạo, từng tưởng rằng mình muôn năm trị
vì, ngồi trên đầu trên cổ của cả tỉ người Trung Hoa. Thế rồi, chẳng bao lâu
bệnh trở nên ông Tề Thiên Đại Thánh, để vặt hàng ngàn cái lông cho bay biến vào
hàng ngàn con người không phân biệt già trẻ, trai gái, hoặc người Trung Hoa hay
người ngoại quốc. Hàng ngàn con người lành mạnh trở thành con bệnh, đến lúc đó
lúc nào buồn buồn ông Tề lại ngoắc tay thu về một cái lông, tức linh hồn một người
lại tức tưởi ra đi. Người Trung Hoa có chết thì vẫn nằm đó và Chính quyền Trung
Cộng vẫn ỉm được. Nhưng, những người ngoại quốc họ đến viếng thăm Trung Cộng,
chỉ trong một thời gian ngắn, rồi họ lại
phải về nước họ. Ông Tề đâu có
cần phân biệt ai là người Tầu, ai là người nuớc ngoài. Cứ thấy người là ông ta
ném lông, do vậy chẳng bao lâu bệnh SARS đã có mặt tại 37 nước trên thế giới và
tại mỗi nơi, nó lại xòe bàn tay rộng vơ thêm một số con bệnh mới. Tính đến ngày
21-4-2004, khi Cơ quan Y tế Quốc tế WHO đóng sổ căn bệnh dịch này, trên thế
giới đã có tất cả 8.096 người bệnh và 774 người đã bị chết.
Một trận dịch giết cả 34 triệu người vào thời Trung Cổ
Vào nửa thế kỷ thứ 17, một bệnh dịch thật kinh khủng đã
hoành hành, giết tới 34 triệu người. Ngày đó Thần Chết đã đi lang thang khắp
cõi trời Âu, đến đâu Thần cũng hoa ngọn lưỡi liềm sắc bén lấy đi mạng sống của
cả một phần tư dân số trên miền lục địa rộng lớn. Không những thế, sau đó Thần
còn viếng cả miền Châu Á, qua nước Tầu và Ấn Độ cướp đi mạng sống của thêm vài
chục triệu người nữa. Bệnh dịch ngày đó là bệnh dịch hạch, tràn lây bởi con bọ
chét từ giống chuột sinh ra.

(Bức tranh "Chiến thắng của Thần Chết" của họa sĩ
Pieter Bruegel (giữa thế kỷ thứ 16) mô tả trận dịch tả thời Trung Cổ - Nguồn:
Museo del Prado, Madrid, Tây Ban Nha)
Người bị bệnh tự nhiên lên cơn sốt mê man, người thật mệt
mỏi, rồi toàn thân mình nhiều đốm đen nổi lên, cuối cùng những hạch ở nách, ở
háng, ở cổ và ngay ở ngực nổi lên vàsưng tấy to gần bằng quả trứng gà. Vài ngày
sau, những chỗ sưng đó tự nhiên vỡ ra, nước vàng chẩy bầy nhầy và cực kỳ hôi
thối. Rồi người bệnh tắt thở, thân hình co quắp và đen xì. Do những triệu chứng
trên, nên người ta gọi bệnh đó là bệnh “Chết Đen” (Black Death).
Hình ảnh thời đó thật hãi hùng. Trong sử liệu có tả lại cảnh
một khu phố Luân Đôn trong thời kỳ bệnh dịch vào năm 1665. Cả thành phố, nhà
nào nhà nấy đều đóng cửa im lìm. Phố xá vắng tanh, một vài người đi lại thưa
thớt, mặt ỉu xìu buồn bả. Thỉnh thoảng ở vài góc đường có vài chiếc xe thùng
không mui, do ngựa kéo, dùng để chở xác người chết. Chúng lặng lẽ đậu để chờ đợi.
Một người có vẻ là chức sắc trong khu phố, cầm một chiếc đèn lồng, nhẹ đu đưa, để
mọi người chú ý. Rồi ông hắng giọng la lên, “Nhà nào có người chết hãy mang ra.
Chúng tôi chỉ có 5 phút để chờ đợi”.
Nguyên do, người dân chết quá nhiều, dịch vụ chôn cất không
thể tổ chức riêng rẽ đuợc. Do vậy người ta bắt buộc phải chôn tập thể, không
hòm, không chiếu và không cả bia mộ cá nhân. Thân nhân người chết chỉ việc
khiêng xác ra, người ta sẽ quẳng lên xe, thân người chồng chất đè chận lên
nhau, không phân biệt trẻ già, trai gái. Để đuổi đi phần nào làn
âm khí quá nặng nề, bên cạnh mỗi chiếc xe, người ta đặt một nồi lửa lớn,
có ném vào đó những mẫu bồ kết nhỏ cho khói bốc lên ngùn ngụt một mùi hăng hắc,
nồng nồng.
Khi xe không còn sức chứa thêm được nữa, người
ta mới đánh xe đến một khu rừng kế cận, nơi những người phu đã đào sẵn một
chiếc hố sâu rộng, để mỗi một huyệt chôn,
có thể chứa được từ 20 đến 30
xác chết. Ngày đó người ta tính có đến 34 triệu người bị chết. Toàn Âu
Châu sụt đi ¼ dân số, nên có đến 200.000 ngôi làng và thị trấn bị bỏ hoang tàn, không còn một bóng người và không sự
sống. Thật là một cảnh thật hãi hùng và khủng khiếp, nhân loại không bao giờ
còn muốn nhìn thấy lại cảnh đó một lần nữa.