
Tòa lâu đài Wolfeton
– ảnh: Hiệp hội Lịch sử Dorchester.
Hồ Sĩ Viêm
Nước Anh có nền văn
minh rất sớm và may mắn cho dân tộc họ là tuy bao quanh bốn bề bởi biển cả, nhưng
nhờ về địa thế và dòng nước ngầm Gulf Stream nên Anh Quốc ít bị thiên tai bão
tố. Đồng thời, nước Anh không nằm trên vết nứt của quả địa cầu và không có một
ngọn núi lửa nào, nên cũng rất ít khi bị động đất.
Do đó, bao nhiêu lâu đài
xưa cũ của nước Anh, tuy nhiều cái đã trải qua cả mười thế kỷ, vẫn còn đứng
vững và tồn tại cho đến ngày nay. Hiện nay Anh Quốc còn có đến mấy trăm lâu đài
cổ kính tuy không có người ở, nhưng vẫn được bảo trì để thành những di tích
lịch sử. Theo những truyền thuyết còn lưu lại trong dân chúng Anh, thì mỗi lâu đài
hầu như đều có những hiện tượng ma quái về tâm linh rất bí ẩn, mà người dân địa
phương đều tin là có thật.
Tại tỉnh Dorset, một
tỉnh về phía Tây Nam nước Anh, sát cạnh với Hampshire có một lâu đài gọi là lâu
đài Wolfeton. Nơi đây có một mối tình ngang trái và một chuyện về hồn ma hiện
hình để trả oán nhiều kinh dị và lạ kỳ.
Chuyện mới đầu xảy ra
tại quận Dorchester cách lâu đài trên khoảng 35 dặm. Hồi đó vào năm 1650, tại đây
có một cặp trai gái rất đẹp đôi rất thương yêu nhau, nhưng vì có dính chút tình
họ hàng, nên hai gia đình cả bên người con trai lẫn bên cô con gái đều không
chấp nhận cho họ thành hôn.
Tính tình cặp nhân
tình này rất trái ngược. Người con trai rất lý tưởng trong tình yêu, luôn luôn
chân thành giữ mối tình thật thánh thiện. Tuy yêu đắm đuối nhưng giữ lòng thật
trong sạch, tự kiềm chế mình, không bao giờ để cho lòng dục đi quá xa ra khỏi
vòng lễ giáo thời bấy giờ. Người con gái thì ngược lại, đã say mê đắm đuối thì
yêu rất cuồng loạn, bất chấp dư luận, không đếm xỉa gì đến thị phi. Cô cố tình
quyến rũ người con trai đi sâu vào tình yêu hoan lạc trai gái, không cần giấu
giếm ngay cả người trong nhà.
Gia đình thấy vậy rất
lo sợ tìm cách cấm cản, nhưng không sao dập tắt được ngọn lửa tình đang bùng
cháy dữ dội nơi người con gái. May thay lúc bấy giờ, người tân chủ nhân tòa lâu
đài Wolfeton là Bá Tước Thomas Trenchard, hồi đó mới 20 tuổi, đã để ý từ lâu cô
gái đẹp quận Dorchester, nên tìm người đến mai mối cầu hôn. Gia đình cô gái
mừng quá chấp nhận ngay. Còn cô con gái thấy gia tài người chồng tương lai của
mình quá lớn lao, và danh vọng anh ta lại đang vang dậy toàn vùng, nên cũng tạm
quên đi mối tình đầu vô vọng nhưng nồng cháy để vui với duyên mới.
Người con trai tuy
lòng sầu mênh mông vì mối tình tan vỡ, nhưng nhận thấy như vậy lại là hơn, nên
cố quên đi để hết ý chí lo việc học hành. Do vậy, chẳng bao lâu anh đỗ đạt, ra
trường và trở thành chánh án của vùng Assize. Sau đó ít năm, ông cũng lập gia đình
với một người đẹp trong vùng, con nhà gia thế. Từ đó danh vọng và tiền tài đã đổ
vào gia đình ông như nước, khiến cuộc đời ông tràn ngập hạnh phúc, sung túc và
sung sướng.
Trong khi đó, người
con gái quận Dorchester có số phận hẩm hiu hơn. Sau năm năm hương lửa, người
chồng bỗng dưng bị bệnh rồi đột ngột từ trần, để lại cho nàng một nỗi buồn thật
sâu xa trong một lâu đài quá mênh mông trầm lặng. Nàng thường mặc áo đen ngồi
im lìm hàng giờ bên cửa sổ, trông vọng về quê nhà để tưởng nhớ đến gia đình, để
oán trách người chồng quá phũ phàng, trốn nợ đời quá sớm, để nàng một mình hiu
quạnh. Đồng thời, nàng còn mơ màng nhớ nhung người anh họ cũng là người tình
cũ, hiện đang sống êm đềm bên người vợ trẻ đẹp một cuộc đời thật sung sướng,
hạnh phúc.
Vì suy nghĩ quá
nhiều, nàng bỗng đâm ghen. Ghen với hạnh phúc người tình. Ghen với vợ của người
anh họ, mà nàng cho rằng đã cướp giật mất hạnh phúc đáng lý là của nàng. Nàng
suy nghĩ mông lung rồi nàng thở dài thườn thượt, buồn cho số phận quá khắt khe
mà nàng đang phải chịu đựng.
Bắt đầu từ đó, nàng năng
trở về thăm làng xưa, quê cũ. Nàng cũng thường lui tới thăm gia đình người anh
họ, quà cáp thường xuyên và săn sóc tận tình như một người em ruột. Rồi một
hôm, ông anh họ bận việc tòa, đi xử án tại một tỉnh ở xa, phải vắng mặt nhiều
ngày, nàng rủ người vợ và một nhóm gia nhân cùng đi vào một khu rừng gần đấy
vui đùa với hoa bướm, cây cỏ trong vòm trời thiên nhiên bát ngát và hoang vắng.
Đang cùng nhau chơi đùa,
bỗng một số gia nhân thấy người vợ ông quan tòa một mình lẩn thẩn đi sâu vào
phía trong rừng hoang. Rồi đột nhiên có một nhóm người bịt mặt xuất hiện, nắm
cô gái này kéo đi. Cô ta kháng cự kịch liệt, thì bọn cướp tức giận cầm mã tấu
chém phăng, đứt luôn đầu cô gái xấu số. Cả bọn còn lại, bà Bá Tước và số gia
nhân trông thấy xa xa, sợ hãi quá hét vang lên cầu cứu. Có lẽ bọn cướp sợ bị
lộ, nên vội vàng lẫn vào rừng trốn biệt dạng.
Sau vụ giết người
này, người ta điều tra và lục soát gắt gao, nhưng bóng chim tăm cá biết đâu mà
truy lùng cho ra, nên lâu dần vụ án này cũng chìm trong quên lãng. Từ đó bà Bá
Tước cũng thưa về thăm làng cũ, nêu lên rằng mình vô tình làm cho người anh họ
buồn, vì nếu không rủ đi chơi thì sao mà có vụ này xảy ra. Ông chánh án, tất cả
vụ của người khác thì thông, nhưng đến vụ của mình thì cũng rối mù, không làm
sao tra xét được ra manh mối. Ông buồn rầu rồi cố tìm quên lãng trong công
việc.
Cho đến một hôm, ông được
cử đến vùng có lâu đài Wolfeton để xử một vụ án. Khi gần xong công tác, ông
nhận được một bức thư của bà Bá Tước khẩn khoản mời ông đến lâu đài để dự một
bữa tiệc đãi đằng ông vào buổi tối hôm đó. Vì nể người em họ, ông vui vẻ nhận
lời.
Căn phòng ăn lộng lẫy
với bộ bàn ghế chạm khắc cầu kỳ kiểu Trung Cổ và điểm thêm vài nét mỹ thuật của
thời Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhất. Chính tại nơi phòng này, hồn ma đã hiện lên,
cổ cụt, đầu cầm trên tay, đe dọa người chồng không được sàm sỡ.
Ngày hôm đó, lâu đài
Wolfeton như bừng dậy sau một giấc ngủ triền miên. Từ phía cổng cho đến bên
trong lâu đài, cờ quạt đèn đóm được trưng bày như trong một ngày hội hè lớn.
Nhất là nơi phòng ăn, nơi được nổi tiếng toàn vùng là có sự trang trí lộng lẫy,
đắt giá bằng bộ bàn ăn chạm trổ cầu kỳ kiểu Trung Cổ, điểm một chút vẻ mỹ thuật
của thời Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhất. Tấm thảm nhung đặt từ nước Hồi Giáo Ba Tư
tại Trung Đông, chân bước lên mịn màng, cảm tưởng như bềnh bồng lướt trên bọt
sóng. Trên trần cao vút những vòm cong chạm trổ những hình tượng có dáng mỹ
thuật tân kỳ, bởi những nhà điêu khắc danh tiếng.
Gia nhân và những người
tá điền chung quanh đã chạy tới giúp việc, lăng xăng chạy ra chạy vào gọi nhau ơi
ới, gây bầu không khí thật tưng bừng y hệt như ngày còn hồn ma Bá Tước lúc sắp
lấy vợ. Những vò rượu quý được cất từ lâu trong hầm được lấy ra sẵn sàng. Những
thứ ngon vật quý được mua về cho những người nấu bếp thiện nghệ trổ tài nấu nướng
thành những món ăn thật cầu kỳ, lạ lùng nhưng thật ngon miệng. Những bữa tiệc
như thế này xưa nay chỉ để dành đãi đằng quan khách vào hàng vua chúa và quý
tộc.
Niềm vui của bà Bá Tước
đã được lộ hẳn ra ngoài. Bà nhí nhảnh, tươi vui ca hát như thuở còn con gái. Bà
trang điểm thật lộng lẫy với những bộ quần áo thướt tha đúng thời trang của
những nhà quý phái cùng những đồ trang sức thật quý giá, lóng lánh như ánh sao,
màu sắc lóe sáng rực rỡ như màu mây lúc bình minh ngoài biển cả. Nhan sắc bà đã
đẹp, nay muôn phần đã được tôn lên, những tưởng nếu bà muốn chinh phục một người
đàn ông nào thì không một sức mạnh nào có thể cưỡng nổi.
Chuyện gì tới, rồi đã
đến. Từ lúc ông quan tòa bước xuống từ chiếc xe song mã, ông đã ngẩn ngơ vì sắc
đẹp của người tình cũ. Những nét dáng quyến rũ xa xưa, nay qua nhiều năm tháng đã
ngọt ngào thêm, quyến rũ hơn và vô cùng mặn mà duyên dáng. Ông càng cảm động đến
run người vì cách thức tiếp đãi bằng vẻ niềm nở quá thân mật đượm vẻ lả lơi của
chính chủ nhân, bà Bá Tước, một người tình ông hằng yêu mê đắm đuối thuở thiếu
thời.

Hành lang tòa lâu đài
Wolfeton – ảnh: Hiệp hội Lịch sử Dorchester.
Trong bàn tiệc tuy
thật sang trọng và đầy ắp những đồ ăn ngon lành bày sắp thật mỹ thuật, lắm công
phu, nhưng thực khách chỉ có một mình ông đối diện với nữ chủ nhân, một phụ nữ đẹp
như một bà Hoàng với đôi mắt sắc sảo, thu hồn như một phù thủy. Với đôi cánh
tay trần trắng trẻo mịn màng, những lúc đưa thức ăn mời ông đã đụng chạm vuốt
ve ông như mời mọc một nụ hôn nồng cháy.
Nhất là khi đồ ăn bày
sắp đã xong, muốn được tự do hơn bà Bá Tước đã ra lệnh cho tất cả người làm lui
ra, đóng cửa lại, chờ có gì sai bảo mới được vào. Sau vài ly rượu khai vị,
trong lời nói của bà Bá Tước đã mười phần lơi lả, nũng nịu của một tình nhân
nói với một tình nhân. Ông quan tòa sắt đá xưa nay bỗng nhiên chùn lòng, háo
hức. Ông hoa mắt thấy cả một trời hoa bướm. Nỗi sung sướng dào dạt đưa ông lên
cao tít đến tận mây xanh. Ông rùng mình như muốn đưa hai tay ôm ghì lấy người đàn
bà đẹp để nỉ non tâm sự những nỗi nhớ nhung lẫn những đau khổ mà hai người đã
phải chịu đựng qua biết bao nhiêu năm tháng dài. Nay hai người đã cùng một hoàn
cảnh, người mất chồng, kẻ chết vợ, thật dễ hòa hợp nhau hơn, yêu mến nhau hơn,
bất kể thế giới bên ngoài có sụp đổ ra sao cũng mặc.
Người đẹp như thông
cảm, nhẹ nhàng mỉm cười, kéo nhẹ làn mi xuống chờ đợi. Bà không thấy được cảnh
tự nhiên ông quan tòa sựng lại, mặt ông thất sắc rõ rệt, đang ửng đỏ vì rượu
bỗng tái xanh như vì sợ hãi. Ông chăm chú nhìn bà Bá Tước rồi... bỗng nhiên ông
không nói một lời, vội vã đứng dậy và bước ra khỏi phòng. Ông lên xe ngựa và
bảo người hầu đánh xe về ngay nhà ông ở Dorchester.
Cả tòa lâu đài náo động,
không một ai hiểu nổi nguyên nhân tại sao ông quan tòa lại bỏ đi quá đột ngột.
Chính bà Bá Tước cũng không hiểu sao lại xảy ra cớ sự như vậy.
Có nhiều người hiểu
rõ sự việc từ trước đây đã đoán, ông quan tòa sắp phạm vào tội lỗi, thì bỗng
nhiên ý chí ông bừng dậy và ông đã phản ứng kịp thời. Có người lại đoán ông này
đến giây phút cuối cùng đã nhớ đến người vợ bị không may chết thảm khốc, mà ông
quá thương tiếc đã hứa không lấy vợ nữa, nên ông đã đổi ý và chạy trốn tình
yêu. Có người lại nói, ông quan tòa đã quá nhát gan, sợ sẽ mang tai tiếng, mất
danh giá, mất sự nghiệp nên bỏ chạy.
Chẳng hiểu lý luận
nào đúng nhưng thêm một sự việc nữa xảy ra đã làm lóe ra một chút ánh sáng. Sau
bữa tiệc tan vỡ 5 hôm, bà Bá Tước quá buồn rầu nên đêm hôm đó bà leo lên tận
cùng sát nóc của tòa lâu đài treo cổ lên xà nhà tự tử. Trước khi có dự định
trên, bà đã viết một bức thư tuyệt mệnh gửi cho người tình để trách móc, và đoán
là chính người vợ bị giết đã hiện hồn lên để ngăn cản không cho người chồng
tiến tới ôm lấy bà và ái ân cùng bà. Bà Bá Tước còn tiết lộ, người vợ ông quan
tòa sau đó còn dám hiện lên dọa nạt cùng cười vào mũi bà và nói là bà đã thất
bại. Tức giận nên bà quyết định đi sang thế giới bên đó để tranh cãi cho bằng được,
là ai đã cướp chồng của ai. Cuối cùng, bà cho biết vì bên chồng không còn một
ai nối dõi, nên bà làm chúc thư tặng cả tòa lâu đài cùng toàn thể điền sản cho
ông quan tòa, một người chồng chưa một lần cưới của bà.
Nhận được bức thư, vị
chánh án buồn rầu đau xót. Ông thú thật trong bữa tiệc hôm đó, lúc ông dợm đứng
dậy định sang ôm người tình, thì ông thấy hồn của vợ ông hiện lên một cách rõ
rệt, cổ cụt và chiếc đầu cầm ở tay. Bà trợn mắt nhìn ông và đôi hàm răng nghiến
chặt tỏ vẻ không bằng lòng. Vì quá sợ hãi nên ông không còn suy nghĩ gì và hấp
tấp bỏ đi. Giờ đây ông hối hận khôn nguôi, vì mối tình quá cao đẹp và tuyệt
vọng của người tình. Vì vậy ông đã xin từ chức và đi vào ở ẩn trong tòa lâu đài.
Nhưng... không hiểu
người cựu chánh án đã nghĩ sao, khi có một tên tướng cướp vì quá hối hận nên đã
lén vào lâu đài thú thật với ông rằng, chính bà Bá Tước ngày đó đã thuê tiền
anh ta để giết bà vợ ông. Theo kế hoạch, bọn cướp 3 người phải đến nấp trước
bên cạnh một cây trà mi đang thời nở rộ những bông hoa tươi thắm. Chờ đó cho đến
khi nào có một người phụ nữ đến hái hoa thì bắt và giết đi. Chắc là bà Bá Tước đã
ngầm dụ bà vợ ông tòa đến hái những bông hoa đó.
Không một ai biết ý
nghĩ của ông tòa, nhưng từ ngày đó đêm đêm người ta thường thấy hai bóng đàn bà
đuổi nhau quanh lâu đài. Lúc thì bà này đuổi bà kia chạy. Lúc thì ngược lại, bà
này chạy bà kia đuổi. Quanh năm suốt tháng, hai bóng hình đuổi nhau như đèn kéo
quân, nhất là những đêm mưa gió, họ còn hét lên những tiếng the thé rùng mình.
Chỉ tội nghiệp cho ông quan tòa, mỗi ngày một gầy trơ xương cho đến mấy năm sau
đó, trong một đêm thanh vắng, ông nhắm mắt từ trần không một người thân bên
cạnh, không một lời trối trăn để lại.
Cũng
từ ngày đó hai bóng hình biến mất, có lẽ họ đã làm lành với nhau hay là vẫn cãi
nhau ở bên kia thế giới vô hình. Còn về tòa lâu đài thì cũng từ ngày đó không
còn ai làm chủ nên trở thành hoang phế, mặc cho rong rêu phủ đầy và cỏ dại mọc
lan tràn tứ phía.