
Văn Quang
(Trích trong Giai Phẩm Xuân Viễn Đông năm Kỷ Sửu)
Vừa qua một cơn mưa
lớn, con đường từ thị trấn vào xóm Giếng Thổ Thần trơn trượt, hai bên là rừng
cao su ba năm tuổi còn thưa thớt. Bầu trời quang đãng, trăng thượng tuần soi lỗ
chỗ trên giải đất đỏ quạch. Thôn xóm bình yên bắt đầu vào giấc ngủ yên lành, tưởng
như không bao giờ có một xáo động nào đánh thức cuộc sống thôn quê này được.
Thằng Dậu cắm cúi đi, nhắm mắt nó cũng biết đi tới đâu trên lối đi quen thuộc
này. Nó run chỉ vì trời lạnh và nó đang đói.
Hồi sáng nay có một
phái đoàn nào đó về phát quà Tết cho dân nghèo. Chẳng biết phái đoàn đó từ đâu đến.
Chỉ nghe “đồn” là Việt kiều hay “người nước ngoài” phát quà. Gì chứ “nước
ngoài” phát quà thì nhất định phải “bảnh” hơn là “trong nước”. Mỗi phần quà của
người “nước ngoài” có khi lên tới hai trăm ngàn đồng như năm ngoái. Còn “nước
trong”, có khi chỉ được vài gói mì và gói bột ngọt. Thế mà cũng phải chờ dài cổ
ra, từ sáng tới gần trưa mới được lãnh.
Nhưng thằng Dậu thì
khi được khi không. Nó chẳng hiểu mấy ông ở “Uỷ Ban Xã” làm ăn ra sao, bởi họ
chẳng cần giải thích với ai về cái danh sách “hộ nghèo” nào được hay không được
lãnh quà. Nó có hỏi cũng vô ích, câu trả lời giản dị là danh sách từ Tổ, từ Ấp đưa
tên lên, về đấy mà hỏi. Về Ấp thì lại chỉ lên Xã mà hỏi, muốn “kiện” thì lên
Huyện mà kiện. Thế là đánh bùn sang ao, chả ăn thua gì. Mà trên thực tế thì
cũng chẳng anh nhà nghèo nào hỏi cho mất thì giờ, đôi khi còn thêm phiền phức.
Thật ra cái hoạ và cái phúc đối với dân bần cùng không còn nghĩa lý gì nữa. Họ
chẳng còn gì để mất. Ấy thế mà vẫn còn cái để “doạ” dân bần cùng được. Họ sợ lần sau phát quà sẽ
không bao giờ có tên mình. Một nỗi sợ lơ lửng cũng như nhiều nỗi sợ lơ lửng
khác, không thành hình, không thành tiếng, nhưng thành lệ vẫn treo toòng ten trước
mặt. Giả thử như thôn xóm có nhà nào bị mất trộm con gà con chó, thì việc đầu
tiên là những anh bần cùng sẽ được “hỏi thăm” trước tiên.
Hơn ai hết, Dậu hiểu
rất rõ những “cái lệ” ngầm này. Nó chỉ đoán lơ mơ rằng khi nào danh sách phát
quà lên đến hơn trăm người thì may ra mới có tên nó. Và đó cũng chỉ là hy vọng.
Sáng nay Dậu ốm nặng,
tuy nhiên nó vẫn sẵn sàng “lên đường” nếu được gọi tên. Nó nằm co ro trong căn
nhà rách nát, quấn tấm mền của thằng bạn làm nghề phụ lái xe ngoài thị trấn mới
cho… năm ngoái. Vài tiếng xe gắn máy nổ lịch bịch ngoài đầu xóm, vài tiếng í ới
rủ nhau lên trường học lãnh quà. À thì ra lần này phát quà ở trường học nằm
khuất trong một khu dân cư giữa thôn. Có lẽ vì Uỷ Ban Xã không muốn phô trương
rằng người ở nước ngoài về phát quà Tết cho đồng bào nghèo, sợ mất “uy tín” của
chính quyền địa phương chăng? Thôi thì họ làm gì mặc họ, hơi đâu mà dính vào.
Phát ở đâu thì lãnh ở đó, nhưng nó có tên đâu mà “lo bò trắng răng”.
Mãi tới khi mặt trời
lên cao, trời bớt lạnh, Dậu mới bò dậy với cái bụng đói meo. Nó xúc miệng và
uống một hơi nước trong veo trong cái vại dưới gốc cau để dằn bụng. Lần ra thị
trấn xem có thể kiếm được cái gì ăn. Nó tránh con đường đi qua trường học vì
không muốn thấy những bộ mặt hí hởn ôm những gói quà về nhà. Trong đó không
thiếu gì người có của ăn của để, có công ăn việc làm, đi xe gắn máy “xịn” ra
lãnh quà. Dậu đi thoăn thoắt với cái bụng đói đang sôi òng ọc cứ như con lạc đà
đeo cái túi nước dự trữ ở cái bìu dưới cổ.
Ra đến đầu chợ, nó
nhìn quanh quất rồi nhào đến chỗ bà Tư Hoa, chuyên bán rau nhưng dịp gần Tết
thì bán thêm một vài chậu hoa cúc, vài chậu quất thuộc loại rẻ tiền trang trí
cho những nhà bình dân vào dịp tết. Bà Tư Hoa béo tròn trùng trục, tính nết sởi
lởi, và là người quen biết với gia đình nó còn sót lại, thương anh em Dậu hơn
những người khác. Gọi là thương hại hay tội nghiệp cũng không là quá đáng.
Không cần đợi bà Tư Hoa ra lệnh, Dậu nhảy ngay vào don dẹp mớ rác xung quanh
làm ngập ngụa cái cửa hàng nằm tênh hênh bên lối đi. Bà Tư vẫn thản nhiên bán
hàng cho khách coi như đó là chuyện thường tình.
Cuối buổi chợ, bà móc
bóp đưa cho nó hai chục với lời thăm hỏi:
– Con Hợi có về
không?
– Cháu cũng không
biết nữa, Tết nó nghỉ học nhưng kiếm được cái gì làm thì nó không về.
Bà Hoa chép miệng:
– Đây với Bình Long
mà xa xôi gì. Nó có về mày bảo nó lên
nhà, tao có việc cần nhờ đấy. Thu dọn nhà cửa cho tao thôi, những thứ việc mày đụng
vào là bể hết chén dĩa, đến quần áo mày cũng không biết ủi.
Thằng Dậu lặng thinh,
nó lẩn nhanh vào giữa chợ, kiếm hàng xôi, làm một gói vừa đi vừa nhai. Còn 15 đồng,
nó ghé tiệm thuốc Tây mua một liều thuốc cảm thế là hết nhẵn. Ấm bụng, nó ghé
vào con đường mòn dẫn lên chỗ đá gà. Giờ
này chưa bắt đầu, mới chỉ có vài anh mang gà đến chờ độ ngồi dưới những
gốc cây rừng quanh một khu đất khá rộng. Nó gặp thằng Cẩn lơ xe đò, hai đứa là
bạn học từ thuở nhỏ. Nhưng Cẩn láu cá nhanh nhẹn hơn nó nhiều, dù học dốt hơn
nó. Song giỏi hay dốt thì ở cái thị trấn này nếu không được đi học thêm ở tỉnh
hay thành phố thì cũng chỉ đi làm công hoặc trở về làm vườn cho bố. Đứa nào may
mắn thì học được một cái nghề vớ vẩn kiếm sống. Cũng chỉ là học mót các “sư
phụ” không bằng cấp, làm lâu năm “lên lão làng” vậy thôi. Thằng cẩn vẫy nó lại
gần cái bu gà của một tay chơi nổi tiếng:
– Tao tưởng mày được
lãnh tí quà Tết chứ, “hốc” à?
– Ừ. Sao mày không đi
theo xe?
– Xe hư, đang sửa.
Lúc nãy tao thấy con Ninh đèo tới hai phần quà to tướng trên chiếc gắn máy mới
toanh. Hồi này em đi Nouvo điệu lắm.
Rồi thằng Cẩn cười
tít mắt:
– Nay mai vác cái
bụng đi Nouvo còn đẹp hơn.
– Còn lâu. Cái bụng
chưa to, chúng nó đã bàn nhau “cho ra” rồi. Bây giờ không cần lên thành phố, ở
ngay thị trấn này cũng “phá” được dễ dàng. Nhấp nháy là xong.
Hai đứa chúi đầu vào
nhau nhỏ to tâm sự vụn. Thằng Dậu vốn là đứa biết nhiều chuyện bí mật và những
vùng xung quanh thị trấn này nhất, bởi một lẽ giản dị là hồi sau này nó đau ốm
liên miên, không đi làm được nên có nhiều đêm nó mò mẫm chui vào bất kỳ nhà nào
sơ hở, kiếm cái gì có thể ăn được, có thể bán được, dù chỉ năm bảy ngàn đồng,
miễn là giải quyết được cái đói đang “khẩn trương” đòi hỏi. Nó không phải là
dân ăn trộm chuyên nghiệp nên không “làm những vố lớn”, vừa nguy hiểm vừa mất
công. Nó thường tự ví nó như dân “ăn trộm thời vụ” để “chữa cháy” (một thứ danh
từ mà báo chí và mấy ông cán bộ vẫn hay dùng).
Chính vì hay đi rình
mò ban đêm như thế nên Dậu biết rất nhiều chuyện của rất nhiều gia đình ở quanh
thị trấn này. Cả những chuyện của những cặp trai gái hẹn hò nhau ở những nơi
kín đáo, những cái chòi góc rừng, những hóc núi, có khi ngay ở cái nghĩa trang
liệt sĩ nằm giữa ngã ba khuất nẻo dưới những hàng cây tùng rì rào trong bóng đêm.
Có lần thằng Dậu,
rình rập một căn nhà cuối phố. Hai vợ chồng anh hớt tóc lề đường, gần khuya về đến
nhà, chẳng biết hứng tình làm sao, lôi nhau vào buồng, đè nhau ra làm tình dữ
dội. Bất đắc dĩ, thằng Dậu phải chứng kiến cái cảnh ấy. Nó nghe anh chồng nói
em làm như trong phim đi. Chị vợ hơi đỏ mặt, nhưng rồi cũng ngoan ngoãn làm
theo, nó thấy giống trong những cuốn phim sex thật. Lọai phim tầm thường, cũ xì
nhưng khi nó tràn về thị trấn thì đắt hàng lắm và nhiều cặp ăn nên làm ra tha
hồ thưởng thức, học tập. Thứ đó thằng Dậu được cánh xe đò cho xem cọp từ lâu
rồi. Tuy nhiên, trước cái cảnh “người thật việc thật” của cặp vợ chồng này, Dậu
thấy hấp dẫn hơn xem phim nhiều. Chị vợ, gốc dân quê chính hiệu, anh chồng là
dân bộ đội, sau khi xuất ngũ xin ở lại luôn xã này “xin nhận nơi này làm quê hương”.
Bởi về ngoài Bắc, anh biến thành “bần cố nông” chính hiệu, không một tấc đất
cắm dùi. Ở đây còn được “ưu ái” một mảnh đất vườn làm chỗ trú nắng che mưa,
kiếm được cái quán cóc mở cửa hàng hớt tóc, sáng dọn hàng ra, tối dọn hàng về.
Cô vợ cũng được học hành chút đỉnh, nhan sắc khá mặn mòi, mê anh bộ đội từ khi
anh ta còn làm truyền tin trong đơn vị. Nhà nghèo nên bỏ học ngang, về bán quán
ăn cho chú dượng đang làm ở Hội Hồng Thập Tự xã. Đám cưới cũng được tổ chức đàng
hoàng chứ không phải loại theo không. Lấy nhau bốn năm mà chưa sinh được mụn
con nào.
Cặp vợ chồng không
còn biết trời trăng gì nữa, đó cũng là chuyện thường tình. Và Dậu mải mê theo
dõi những cảnh hấp dẫn trước mắt, mãi sau nó mới nhìn ra cái bóp da cũ để trên
mặt bàn nhà ngoài, trong lúc vội vàng “vào cuộc” chị vợ đã để quên. Nó chỉ cần
thọc tay qua khung sắt cửa sổ là có thể lấy được trọn vẹn số tiền để trong đó.
Nhưng nó rụt tay lại, có lẽ ngay lúc đó nó cũng chẳng hiểu tại sao. Nó chỉ biết
rằng nó không phải là tên trộm cắp chuyên nghiệp, nó chỉ cần ăn cái gì cho đỡ đói.
Dậu vòng ra phía sau nhà, nhưng kiếm mãi chẳng có thứ gì đáng giá, đến con gà
con cũng không có. Khi nó thay đổi ý kiến, trở lại gần cửa sổ thì vợ chồng anh
thợ cắt tóc đã xong cuộc, chị vợ đứng tồng ngồng ngay bên bàn, tu chai nước lọc
ừng ực rồi quơ cái bóp nhét vào cái tủ gỗ, biến vào phòng tắm.
Thế là Dậu đói vẫn
hoàn đói, chỉ no con mắt. Nó lang thang, trong cái xóm tương đối khá giả ở xã
này. Còn sớm nên nhiều nhà chưa đi ngủ, vài chú chó sủa râm ran. Nó tự hỏi
không biết nó không lấy cái bóp đó là ngu hay không ngu. Có lẽ là hơi ngu thật
vì đến bây giờ bụng nó đói cồn cào không một đồng xu dính túi.
Nó bỏ con đường trải
nhựa, lần xuống xóm dưới. Lác đác vài ngôi nhà mái tranh tàn tạ. Dậu chẳng thấy
“mục tiêu” nào có thể hành động được. Nó vô tình đi qua nhà mụ Tám. Căn nhà
xiêu vẹo, cửa ngõ trống huơ trống hoác. Cái ngữ nhà mụ này thì cũng chẳng hơn
nhà nó là bao. Nó đã tính bỏ đi kiếm ăn chỗ khác.
Nhưng mắt nó hấp háy,
nó thấy mụ Tám đang lúi húi dốc cái túi gạo vào chiếc lu bên liếp kề vách. Đôi
mông to bành lúc lắc dưới ánh điện của chiếc bóng đèn cũ. Thằng Dậu nhìn chiếc
bao có mấy hàng chữ xanh đỏ, nó biết ngay đó là phần quà mụ Tám mới được lãnh
sáng nay, mụ phải đi làm mướn cho người ta nên bây giờ mới mang về nhà. Thằng
con trai mụ, giờ này chắc còn đang lông bông ở mấy cái bàn cờ bạc cò con ngoài
phố. Mụ có liên quan ít nhiều đến gia đình liệt sĩ, nghe nói anh chồng trước
của mụ hy sinh ở chiến trường Campuchia, nhưng thằng con trai này lại của một
anh chồng khác. Anh đó lên làm rẫy tằng tịu với mụ ít lâu, để lại cái “di sản”
này rồi lặn mất tăm. Mụ cho nó đi luôn, thỉnh thoảng hào phóng đón một anh về
ngủ chung ngay tại căn nhà rách tả tơi này. Thằng Dậu biết khối chuyện như thế
và khối chuyện ngoại tình lỉnh kỉnh của các gia đình quanh đây. Nhưng nó lẳng
lặng không nói gì, chỉ thỉnh thoảng nhìn những “nhân vật” ấy cười thầm, đôi khi
nó muốn chứng tỏ “ta biết hết”, song những “nhân vật” của nó chẳng hiểu thằng
nhãi này ngó mình chăm chăm là có ý gì. Nó cũng chẳng cần nói ra và tuyệt đối
không thèm lợi dụng những sự kiện đó để kiếm chác.
Mụ Tám xoa nhẹ tay
lên mặt lu gạo rồi quay ra với chiếc áo len treo trên mắc, móc chiếc gương bằng
bàn tay treo trên liếp, vuốt lại mái tóc, tủm tỉm cười duyên coi xem mình còn
xinh đẹp tới cỡ nào…. Sau đó mụ vuốt lại cả cái quần hơi nhăn nhúm, te tái đẩy
cánh cửa ra đi.
“Chắc lại hẹn thằng
mắc dịch nào ở bìa rừng đón nó về đây”. Thằng Dậu nghĩ vậy vì có lần nó đã nghe
chính mụ nói với một anh tình nhân: “Em không thích đến bất cứ đâu bằng ở nhà
em, đến chỗ lạ em nhột lắm, mất thú”. Thằng Dậu quyết định nhanh chóng, phải
lấy ngay cái số gạo kia đi trước khi mụ Tám trở về. Nhà mụ cũng chẳng còn cái
quái gì có thể lấy được ngoài số gạo mụ mới lãnh này. Mụ cũng là dân nghèo kiết
xác, làm mướn được đồng nào xào đồng nấy. Ốm đau có khi nhịn đói. Mụ lẳng lơ,
nhưng cũng tốt bụng. Nhà ai cần gì mụ giúp ngay. Con Thêm ở xóm trên đẻ non,
chồng đi làm xa, mụ Tám chạy đến và ở luôn với con Thêm ba ngày không lấy một đồng.
Cái vỏ bao gạo còn
vứt chỏng chơ dưới sàn nhà xi măng, thằng Dậu chỉ còn việc làm ngược lại những
gì mụ Tám vừa làm là xong. Nó bê cái lu dốc ngược mấy ký gạo trở lại cái bao,
kiếm sợi dây túm lại. Nó ước tính chỗ gạo này chắc cũng đến 5 ký. Nhưng nghĩ
ngợi thế nào nó lại phân vân, không biết nên lấy cả hay để cho mụ một nửa. Dù
sao cũng là cánh nghèo với nhau. Nó lừng khừng rồi đổ lại một nửa chỗ gạo vào
lu, sau đó vác bao gạo biến nhanh ra lối đi sau nhà, chui vào lối đi qua vườn
cao su cho kín đáo.
*
Không ngờ sáng hôm
sau, Dậu còn đang ngủ, nó bị dựng dậy bởi thằng Bá trưởng ban dân phòng kiêm an
ninh của thôn. Anh ta xục ngay vào cái bao gạo Dậu mới lấy đúng một bát nấu cơm.
Nó đã bị bắt quả tang không chối cãi được. Dậu ngây người, im lặng có nghĩa là
thú nhận. Thằng Bá hoạnh hoẹ, bây giờ nó có quyền ra oai với “phạm nhân”. Nhưng
có một ông lạ mặt đi cùng với thằng Bá mà thằng Dậu cứ nghĩ là công an huyện
hay một vị chức sắc nào đó. Ông ta cười hiền lành, dường như chưa có một ông
cán bộ nào cười hiền lành với Dậu như vậy, nhất là khi Dậu lại đang là một
“phạm nhân”. Ngoại trừ khi một vị lãnh đạo nào về “thăm dân cho biết sự tình”,
muốn tỏ ra thân dân, gần dân cho thợ chụp hình mới niềm nở thân thiện với những
người như Dậu mà thôi.
Ông lạ mặt tiến lại
vỗ vai Dậu:
– Tôi đang tìm anh.
Thằng Dậu đã đến nước
lỳ. Nó thản nhiên:
– Thì cứ bắt tôi đi.
Tôi đói, tôi đi ăn trộm. Có thế thôi…
Người lạ mặt hỏi ngược
lại:
– Nhưng anh để lại
một nửa cho”khổ chủ”. Tôi nghĩ anh phải đói khổ hơn bà Tám, nhưng dù thế nào
anh cũng còn có một tấm lòng. Một con người khó kiếm trong thời buổi này. Đó là
người tôi muốn gặp.
Bỗng dưng được “tuyên
dương”, thằng Dậu cứ ớ người ra. Người đàn ông lạ mặt hỏi tiếp:
– Anh không có tên
trong danh sách những người được lãnh quà Tết sao?
– Không.
Thằng Dậu trả lời cụt
lủn bởi nó chưa thể lường trước được ông lạ mặt này định giở trò gì. Có khi
“tuyên dương” đấy rồi còng tay ngay sau đấy. Chẳng thiếu gì những chuyện như
thế ở cái xã này. Vì thế nên nó giữ “thế thủ” là phải. Ở đây, người ta quen với
cuộc sống luôn phải giữ “thế thủ” chứ thôn xóm không bình yên như người ta
thoạt nhìn vào. Xem ra cái dáng điệu ông này không phải là người ở địa phương
này.
Người lạ mặt nhìn lên
mái nhà lỗ chỗ chắp vá bằng đủ mọi thứ, từ vài miếng vải bố đến mấy tàu lá dừa,
vậy mà ánh nắng buổi sáng vẫn xuyên qua rọi xuống nền nhà. Ông ta nói:
– Nhà anh còn ai nữa
không?
– Còn một đứa em gái
ở thị xã Bình Long vừa đi học vừa đi làm cho dượng Ba tôi. Nhưng nó không dính
dáng gì đến chuyện này.
– Cố ấy làm việc gì?
– Bán điện thoại cho
cửa hàng của dượng tôi.
Rồi ông ta quay ra
nói với thằng Bá:
– Như vậy đủ rồi.
Thằng Bá định lấy cái
bao gạo làm bằng chứng để kết tội thằng Dậu. Nhưng người lạ mặt đã cản lại:
– Để anh ấy yên. Tôi
sẽ đền bù cho bà Tám gấp đôi.
Chẳng biết ông ta là
cái thứ gì mà thằng Bá tuân lệnh rụp rụp. Có thể ông ta không có quyền nhưng có
tiền, “đấm mõm” cho thằng Bá một tí là xong. Ông ta ôm vai Dậu, kéo ra dưới
hàng hiên mái lá lởm chởm rồi hạ thấp giọng:
– Sáng nay tôi nghe
chuyện có một người “ăn trộm anh hùng”, sao cuộc đời này nhiều “anh hùng” thế
nhỉ. Nhưng những “anh hùng” khác chưa chắc đã xứng đáng hơn anh. Thôi thì cứ gọi
là một người ăn trộm có lương tâm. Tôi xin được đi theo đến đây gặp anh.
– Để làm gì?
– Tôi cũng chẳng biết
nữa. Tôi nghĩ có lẽ anh phải nghèo hơn người bị ăn cắp. Tôi chỉ muốn gặp anh,
thế thôi.
Người lạ mặt ngừng
lại. Thằng Dậu có cảm tưởng như mình là một loại thú lạ, đang được người ta
nhìn ngó.
Sau cùng ông ta nói:
– Có lẽ anh cần được
giúp đỡ hơn những người khác.
Thằng Dậu nói ngay:
– Nếu tôi không đau
ốm bệnh tật, tôi không cần ai giúp đỡ đâu.
Người lạ mặt chỉ gật đầu.
Ông ta bắt tay thằng Dậu rồi leo lên chiếc xe Honda cũ rích của thằng Bá ra về.
Dậu ngơ ngác đứng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất sau lùm cây, tiếng máy
xe khua động cánh rừng cao su rồi im bặt.
Rồi từ đó, cứ gần đến
ngày giáp tết, Dậu nhận được một gói quà gửi bảo đảm qua đường bưu điện. Nó
nhìn cái địa chỉ lạ hoắc của một ai đó ở nước ngoài. Thật ra thì nó chẳng quen
biết ai ở nước ngoài nên địa chỉ nào, tên nào đối với nó cũng đều lạ hoắc cả.
Gói quà nào cũng khá hậu hĩnh, ngoài những quần áo, còn cả vài món nữ trang cho
em gái nó và không năm nào quên một cái thiệp chúc Tết với những lời lẽ thân
thiện và bình dị. Dậu cũng lịch sự viết thiệp đáp lễ.
Cho đến khi con Hợi
khôn lớn, nhảy ra thành phố đi làm cho một công ty cung cấp máy tính. Vài năm
sau Hợi lấy chồng, món quà tết Hợi mang về cho anh là một thằng con trai kháu
khỉnh. Nhưng có một bất ngờ lớn nhất là bố chồng của Hợi từ nước ngoài về,
chính là người đàn ông lạ mặt đã đến gặp Dậu năm nào với thằng Bá. Ông ta nhìn
Dậu cười hì hì:
– Anh còn nhận ra tôi
không?
Dậu gật đầu. Nó hơi
ngượng vì cái dĩ vãng đen tối của nó. Bây giờ kể như ông này lại là “thông gia”
với nó. Bố mẹ không còn, “quyền huynh thế phụ”, Dậu coi như thay mặt bố mẹ
thông gia với ông này. Nó trở nên ấp úng:
– Tất nhiên là tôi
nhớ ông, dù ông có già đi đôi chút. Có phải những gói quà Tết hàng năm ông gửi
cho tôi không?
– Đúng vậy. Người ta
không phát quà cho anh, tôi chỉ gửi đến anh như một chút an ủi. Thằng con trai
tôi làm việc cho một công ty nước ngoài ở Sài Gòn. Nó đã từng có vài mối tình ở
Houston và ngay cả ở Hà Nội nữa. Nó trở nên chán nản, gần 40 rồi vẫn chưa có
vợ. Tôi kể lại chuyện chúng ta gặp nhau, nó vó vẻ thích thú lắm. Tôi nói anh
còn một người em gái vừa đi học vừa đúng ở của hàng bán điện thoại ở Bình Long.
Thằng con trai tôi đích thân đi kiếm và chúng nó gặp nhau.
Rồi ông “thông gia”
nhìn về phía vợ chồng Hợi đang bế đứa con, anh chồng nhoài người hái trái
sa-bô-chê ở đầu nhà, giọng ông trầm xuống:
– Nhưng không có món
qua Tết nào tuyệt vời hơn món quà Tết kia
Dậu cũng cảm nhận được
hạnh phúc đó. Nó tưởng câu chuyện không thể có thật mà vẫn có thật.
(Trong truyện dài Phá Sản)