Bạn thích bài này?
Font-Size:
Cầu hôn kiểu… hiện đại
(VienDongDaily.Com - 04/10/2011)
Cầu hôn” là một từ Hán Việt và được sử dụng nhiều từ thuở… tân thời, đặc biệt trong giới học thức hay “trưởng giả học làm sang”, chứ thật sự cổ nhân ta, cách riêng giới bình dân, vẫn nói nôm na là “hỏi vợ” hay “dạm vợ”.
Hoài Mỹ/Viễn Đông

Cầu hôn” là một từ Hán Việt và được sử dụng nhiều từ thuở… tân thời, đặc biệt trong giới học thức hay “trưởng giả học làm sang”, chứ thật sự cổ nhân ta, cách riêng giới bình dân, vẫn nói nôm na là “hỏi vợ” hay “dạm vợ”. Từ Hán, từ Nôm, cả hai từ đều diễn tả việc một người con trai hỏi ý người một con gái có muốn làm vợ mình không. Đây là bước đầu tiên trước khi tiến tới giai đoạn thứ hai chính yếu khác: Xin cưới - rồi mới đến đệ tam cấp: Cưới vợ. Đó là chưa kể những việc lẻ tẻ khác vốn cũng “trần ai khoai củ” lắm.

Xin minh xác, tuy vừa nói việc cầu hôn là chuyện giữa một “người con trai” và một “người con gái”, nhưng trong thực tế, nhất là vào thời xa xưa, “đôi trẻ” này chỉ “có tiếng mà không có miếng”, nghĩa là chỉ đóng vai tiêu cực mà thôi, còn bao nhiêu việc quan yếu khác đều do hai gia đình quyết định, bởi thế cả nam lẫn  nữ đều có đủ chính nghĩa để khẳng định: “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” trong việc “ăn đời ở kiếp” của chính bản thân mình. 

Phải, ngày xưa, dân tộc ta vốn đã nghèo “rớt mồng tơi”, đã có thời “con đóng khố, bố cởi chuồng”, điển hình là trường hợp “Trần Minh khố chuối”, nói chi tới hoàn cảnh thông thường “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”… Vậy mà không hiểu sao cố nhân lại bầy ra lắm nghi lễ đến thế, gây tốn kém khủng khiếp. Điển hình là việc cưới hỏi, hầu hết đám nào cũng phải vượt qua 6 cửa ải: Lễ Nạp Thái - Lễ Vấn Danh - Lễ Nạp Cát - Lễ Nạp Chưng hay Nạp Tệ - Lễ Thỉnh Kỳ - Lễ Thân Nghinh. Dịp nào cũng phải tiêu pha “thùng bất tri thình” và cỗ bàn linh đình. Chẳng lạ, nhiều bậc cha mẹ lo việc trăm năm xong, liền lâm vào cảnh… phá sản hoặc mang nợ ngập đầu. Bởi thế không lạ những trường hợp người con dâu đã lãnh đủ biết bao hệ lụy, bị nhà chồng trả thù và “đì” cho tới chết để bù vào những phí tổn mà họ nhà trai đã phải cắn răng bỏ ra. 

Thế nhưng, chủ đích của bài không lạm bàn về những hủ tục “trần ai khoai củ” kể trên, nhưng chỉ muốn lai ra chuyện cầu hôn thôi. Mà dù sao cũng phải nhắc lại sơ qua dĩ vãng gọi là cho có chút đầu, tí đuôi.

Trong xã hội phong kiến xửa xưa, “nam nữ thọ thọ bất thân”, nghĩa là trai gái không được ở gần nhau nói chi dám đụng chạm nhau hay vừa “hôn” vừa “hít” nhau. Ấy như chàng Lục Vân Tiên văn võ song toàn của cụ Đồ Chiểu, sau khi ra tay đánh đuổi bọn cướp khốn nạn để cứu nàng Kiều Nguyệt Nga tài sắc trọn vẹn gặp nạn. Vậy mà khi thấy người con gái này đang lui cui tìm cách ra khỏi chiếc xe ngựa đã bị lật, chàng trai họ Lục đã hết hồn, vội quay mặt đi mà khua tay phía sau lưng: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra; nàng là phận gái, ta là phận trai”. Trai gái thuở xưa chẳng bao giờ có chuyện trực tiếp “hỏi ý nhau” về việc vợ chồng. Bởi thế trong xã hội cũ có những người chuyên nghề môi giới hay trung gian, để mối lái cho đôi trẻ nên duyên, rồi nếu thành công thì được “bợ” trọn cái đầu heo và hơn nữa nếu sau này, chúng hạnh phúc thì trở thành ân nhân mà ngược lại thì bị chúng đào mồ cuốc mả lên mà chê trách, chửi bới. Chẳng thế mà nghề “làm mai” đã bị đánh giá là cái ngu vĩ đại nhất trong cõi ta bà này: “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, gánh nợ, gác cu, cầm chầu”. 

Tuy trên nguyên tắc, lễ giáo thì dạy buộc “nam nữ thọ thọ bất thân”, nhưng trong thực tế, sinh hoạt hàng ngày lại tạo biết bao cơ hội “tiện và lợi” cho nam nữ tha hồ mà… “thọ thọ” nhau. Nào khi cùng cầy cấy ở ruộng đồng giữa cảnh trời đất bao la, nào cùng tát nước dưới ánh trăng thanh, nào tối tối cùng giã gạo trong làn gió mát hiu hiu. Đừng tưởng bở rằng chỉ ngày nay mới có những cảnh “romantic” còn xưa kia không biết “lãng mạn” là gì.

Thú thật, tôi không biết xuất xứ của từ “romantic”, nhưng chữ “lãng mạn” vốn bởi tiếng Hán rất tượng hình. Theo đó “lãng” có nghĩa là sóng; “mạn” là bờ. Hình ảnh sóng đánh vượt khỏi bờ nhằm diễn tả những tình cảm vượt khỏi những sự ngăn cấm của lễ giáo, của phong tục tập quán. Tôi dám “liều mạng sa trường” mà thách đố chàng trai hiện đại nào “bốc thơm” nhan sắc của bồ mình bằng chàng trai quê ngày xưa khen thôn nữ: “Trúc xinh trúc mọc bờ ao - Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh!” hay: “Trúc xinh trúc mọc đầu đình - Em xinh em đứng một mình vẫn xinh!”. Quá hay! Đây mới gọi là “hết ý”! Ngược lại, những câu khen kiểu cải lương ngày nay, đại khái như: “Ôi, em đẹp quá; em đẹp như tiên, đẹp hơn Hằng Nga!” - Nếu cô gái hỏi lại “tác giả”: “Vậy hả anh, bộ tiên đã hiện ra với anh rồi hả?” - hay: “ Anh đã chiêm ngắm Hàng Nga rồi sao?” - bảo đảm chàng thanh niên chuyên bận quần xệ lòi mông này sẽ ngơ ngơ ngáo như cáo gặp cọp mà chỉ còn biết phản ứng một cách thê thảm chẳng khác chi lợn bị cắt tiết: “Ờ… ợ…. anh…” -  Ngay cả câu khen có tính thực tế hơn, chẳng hạn: “Em xinh hơn siêu người mẫu” hoặc: “Em là hoa hậu của lòng anh” vẫn không thể “qua mặt” với câu: “… Anh về anh nhớ hàm răng mình cười!”, hoặc: “Cầm vàng ném xuống vực sâu - Mất vàng không tiếc, tiếc đôi mắt bồ câu hữu tình!”. Ối giời ơi, ngày nay đọc lại các câu ca dao này, tuy là đàn ông già khú đế, tôi vẫn… lạnh xương sống mà cảm nhận như chính bản thân mình đang được “sướng mé đìu hiu” vậy.

Ngày nay, con trai muốn làm quen với con gái, phần đông lại lôi điệp khúc sau đây ra mà áp dụng: “Tôi thấy cô… quen quen, hình như đã được… hân hạnh gặp cô ở đâu rồi!” - Nhàm! Này, hãy nghe một thanh niên nhà quê xưa muốn làm quen một thôn nữ, đã văn hoa: “Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?” - hay vui vui nhưng nghe “phê” tận xương tủy: “Đi ngang thấy ngọn đèn chong, thấy em nho nhỏ, muốn bồng mà ru”!

Còn nói về vụ cầu hôn. Đã đành lễ giáo dạy là “nên không thì cũng tại lòng mẹ cha”, bởi vì “áo mặc sao qua khỏi đầu”, nhưng trai gái xưa vẫn thường hỏi nhau về ước muốn. Chàng trai cầu hôn: “Cô kia cắt cỏ một mình, cho anh cắt với chung tình làm đôi - Cô còn cắt nữa hay thôi? Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng?” - hay: “Cô kia cắt cỏ bên sông, có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây - Sang đây anh nắm cổ tay, anh hỏi câu này: Có lấy anh chăng?” - Thôn nữ đáp lại, bóng bẩy thì: “Anh còn son, em cũng còn son - Ước gì ta được làm con một nhà”; cụ thể thì: “Mình rằng mình chỉ lấy ta, để ta bán cửa bán nhà ta theo - Còn một cái cối đâm bèo, để ta bán nốt ta theo mình về”… để rồi cả hai: “Nhớ ai hết đứng lại ngồi, ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân…”.

Chuyện cầu hôn hiện đại dĩ nhiên khác xưa. Chỉ trừ những tên đại “cù lần lửa” mới để cha mẹ chọn vợ cho mình hay thuộc loại “trói gà không chặt” mới phải cầu cứu đến người làm môi giới, còn thì phần đông vẫn chứng tỏ “làm trai cho đáng nên trai” trong việc lựa chọn người yêu và tỏ tình - nếu có gặp trục trặc chút đỉnh, chẳng hạn tôn giáo khác biệt thì cũng không đến nỗi chịu bỏ cuộc mà: “Chắp tay con lạy Chúa Trời, xin cho bên đạo, bên đời lấy nhau!” - nhưng còn việc cầu hôn, tức là việc chính thức “hỏi vợ” thì vẫn phải “nhờ” đến tay cha mẹ. Đương nhiên hai kẻ yêu nhau này đã “thề non hẹn biển” với nhau rồi, đã “chắc ăn” rồi, người con trai mới dám xin cha mẹ sang “nói chuyện” với cha mẹ của nàng. Một việc làm cho có lệ, theo phong tục cổ truyền và văn hóa dân tộc. Tuy vẫn có một số trường hợp, cha mẹ không ưng “con nhỏ đó tí nào” hoặc thề “không khi nào thèm thông gia với đám đó”, v.v. và v.v… nhưng vẫn phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” mà lo “việc” cho nó, bằng không ngày nay tụi nó vẫn tự lo liệu lấy cũng “chẳng chết thằng tây nào” mà mình lại mất con, sau này mất cháu!

Thế nhưng, một vài vụ cầu hôn đã vượt khỏi mọi nghi thức cổ truyền, nghĩa là “chẳng giống ai”, nhưng lại quá ư… hay, có kết quả tốt. Ngày còn ở bên Na Uy, tôi đã bất ngờ được làm nhân chứng trong một vụ cầu hôn của một đôi nam nữ Việt Nam. Hôm ấy, trong một rạp chớp bóng nhỏ, sau phần chiếu các phim quảng cáo, bỗng hiện lên trên màn ảnh hai hàng chữ vừa tiếng Việt ngữ vừa tiếng Na Uy: “Đông ơi! Có muốn làm vợ anh không? - Hoàng”. Bên cạnh hàng chữ là ảnh một thiếu nữ Việt Nam tươi cười với mái tóc thả dài xuống bờ vai. Tôi đoán khán giả trong rạp chắc hầu hết đang còn bỡ ngỡ thì bỗng có tiếng reo lên: “Có!... Muốn!... Muốn!” - Tức thì đèn trong rạp bật sáng và mọi người đổ dồn ánh mắt về phía mấy hàng ghế cuối rạp: Một đôi trai gái ngoại quốc đang ôm nhau. Tiếng vỗ tay rào rào nổi lên. Đèn tắt. Và chương trình chiếu phim tiếp tục, nhưng tôi cam chắc là hai kẻ hạnh phúc đó bận… chuyện khác, sức mấy còn tâm trí để thưởng thức bất cứ gì khác nữa.

Hôm sau, mấy nhật báo địa phương đều đăng tin vui này. Và vào cuối năm, một đám cưới đã diễn ra. Tôi được mời. Lúc vui miệng, tôi hỏi chú rể tốn phí cho “kế hoạch” cầu hôn độc đáo ấy, cậu cười cười: “Gần một tháng lương của cháu, bác ạ - nhưng được vợ thì mấy cháu cũng chịu!”

Mới Thứ Năm tuần trước, nhật báo Viễn Đông đăng tin: “Đám đông cùng giúp thanh niên Việt Nam cầu hôn”. Số là Nam Trần, một cựu sinh viên đại học UC Los Angeles đã “cầu cứu” đám đông sinh viên, bạn bè trợ lực cho mình cầu hôn người yêu ở ngay sân trường, trước phòng học ở UCLA, nơi hai người đã gặp gỡ nhau lần đầu. Đám đông đã cùng nhẩy múa theo điệu nhạc “Can’t Take My Eyes Off You” của Frankie Valli. Quá đẹp mắt! Sau đó mọi người “nhất trí” cùng quì xuống để Nam mở lời cầu hôn. Trang Vũ, bạn gái của Nam “chịu” liền. Và Nam đã đeo chiếc nhẫn đính hôn cho cô dâu tương lai. Những người chứng kiến sự kiện hiếm có này đã vỗ tay tán thưởng. Báo Viễn Đông kết thúc: “Không thiếu những giọt nước mắt hạnh phúc mừng cho cặp tình nhân”.

Giới trẻ bao giờ cũng có những sáng kiến, chịu chơi, “dám ăn dám chịu”. Thành ra những lối cầu hôn hiện đại cũng mang lại nhiều nét mới mẻ. Theo kẻ hèn này, các bậc phụ huynh dù sắt đá đến đâu, phản đối cách mấy cuộc tình duyên của đôi trẻ mà đứng trước những kiểu cầu hôn hiện đại, chẳng hạn những trường hợp điển hình kể trên, hẳn chẳng ai nỡ tiếp tục… bác bỏ. – (HM)
Hoài Mỹ/Viễn Đông

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/cau-hon-kieu-hien-dai-WhLObDcl.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo