Bạn thích bài này?
Font-Size:
Con xin cúng vong linh cụ một cơi trầu
(VienDongDaily.Com - 29/05/2012)
Phải, ăn thì cũng ba, bẩy đường ăn, nhất là khi đã nâng cấp việc ăn thành thú đam mê dù đôi khi có pha chất... đau thương, vẫn sướng.
Hoài Mỹ/Viễn Đông

Kính cụ - Cụ Nguyễn Thị Lệ của con - lúc đầu con hơi do dự khi dùng chữ “cơi trầu” để hầu chuyện cụ, vì con lầm tưởng “cơi” là từ của riêng miền “Bắc... cờ ăn cá rô cây”, trong khi cụ thuộc dân “giá sống” đặc thù, nhưng khi con đọc được câu thơ “cơi trầu nậm rượu cho tươi lòng thành” trong thi phẩm Lục Vân Tiên thì con an tâm, bởi vì tác giả Nguyễn Đình Chiểu vốn gốc miền Nam... rặt. Thế hệ trẻ ngày nay sức mấy mà biết “cơi” là một cái khay nhỏ hình chữ nhật, dùng để đựng trầu cau, cụ nhỉ.
Vì ở ngoại quốc, con không thể tìm đâu ra được một “cơi xà cừ đựng trầu cánh phượng” theo đúng lễ giáo cổ truyền của dân tộc để dâng cúng vong linh cụ, nay con xin cụ xá tội mà nhận nơi đây một ly “nước chè tầu, trầu cơi thiếc” mà con với tất cả tấm lòng thành nghiêng mình kính cẩn đặt lên bàn thờ cụ.
Thưa cụ, theo lời con cháu cụ tường thuật, dù đã 83 tuổi, cụ vẫn muốn “tự trèo hái cau lấy vì sợ con cháu trảy những trái không đúng ý cụ”. Con rất “chịu” khoản này nơi cụ. Phải, ăn thì cũng ba, bẩy đường ăn, nhất là khi đã nâng cấp việc ăn thành thú đam mê dù đôi khi có pha chất... đau thương, vẫn sướng.

“Cau nào ngon bằng cau Chợ Lách? Gái nào hách bằng gái Bến Tre?”
Con vốn chẳng có chút kinh nghiệm gì về trầu cau, nhưng nghe câu đố dưới đây trong văn chương truyền khẩu về loại cau già, cau non thì đến bố con cũng còn... say huống chi con chuyên môn “ngất ngư con tầu đi” trước tất cả những gì có gắn dấu hiệu “rồ măng tịch”:
Già thì đặc bí bì bi,
Con gái đương thì rỗng toác toàng toang;
Ngoài xanh trong trắng như ngà,
Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu.

Thế nhưng, cụ nhỉ, cau ở mỗi thời điểm của “cuộc đời” cau lại có những đặc điểm riêng. Chẳng thế mà cau vẫn mang những tên gọi khác nhau, chẳng hạn “cau đầu ruồi” là quả cau mới nhú đầu ra; “cau hoa”, thứ cau còn non; “cau đóng vóc” tức là quả cau gần đặc hạt; “cau lừng” là cau đã già cỗi... Cụ mà sai con cháu leo hái cau thì chẳng những chúng chẳng nhận ra quả nào ngon, quả nào dở mà cứ bứt đại, kể cả “cau điếc” là thứ cau thui (không phát triển) hạt hay “cau tiên đầm”, cau còn rỗng ruột và có nước, thì con biết chẳng thà cụ để miệng, răng đình công hoặc cụ nhai “si uynh gum” thay thế còn hơn.
Cho dù là “cau truyền bẹ”, thứ cau có quả cả bốn mùa, và tuy đã có câu “cau hoa, gà giò” nhưng những người mê ăn trầu cỡ cụ vẫn chưa thấy đúng điệu. Quả cau được đánh giá là ngon thì phải xanh bóng “nước da” với hình dáng vừa phải, tròn nhưng hơi “bầu dục” một chút. “Trong lòng”, thịt thì trắng nhưng cũng không được mềm quá mà cũng không đặc cứng.
Ăn cau tươi mới sướng miệng, chứ còn các loại cau khô như “cau đậu” (cau khô dính hạt) hay “cau tum” (cau khô nhỏ miếng) hoặc “cau hoa tai” (cau khô nhỏ miếng mà cong)... thì chỉ những lúc kẹt lắm mới dùng tạm mặc dù nhiều khi cũng rất tình như ca dao đã diễn tả: “Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng, cau khô ăn với trầu vàng sướng không”. Hỏi con giai khi có hơi hướm con gái thì có “sướng không”, chắc chắn chục đứa, cả mười đều ré lên mà xác nhận: “Sướng muốn chết!”
Thiên hạ đồn: “Cau nào ngon bằng cau Chợ Lách - Gái nào hách bằng gái Bến Tre?”, con không rõ thật hư thế nào nhưng căn cứ vào sự tích của cụ thì con nghiệm thấy quả đúng như 2 cộng 2 là 4. Nếu cau Chợ Lách không ngon thì dù đây có là nơi chôn nhau cắt rốn của cụ đi nữa, thì sức mấy mà cụ đã chịu chấp nhận cái chết để vẫn được ăn loại cau này chứ không thèm mua cau ở những xứ khác. Ngoài ra, nay được chiêm ngưỡng dung nhan cụ trong khung kính đặt trên bàn thờ, con thấy cụ “oai” thật sự cho dù cụ là phận nữ và đã lên 83 “mà nhìn vẫn cứ như hoa đầu mùa”. Thế mới biết, “gái Bến Tre” ghê thật!
Nói đến cau thì phải nhắc cả đến trầu không. Đây là loại cây leo; lá dùng để ăn (trầu). Con không rõ sở thích của cụ về lá trầu vì con cháu cụ đã không “thành khẩn khai báo” về mục này sau khi cụ đã rơi “bịch” từ trên ngọn cây cau cao 20 chục thước xuống sân nhà. Hơn nữa, con cũng không tin cụ chủ trương bắt bí cụ ông hồi hai người còn trẻ bằng cách: “Có cau mà chẳng có trầu, làm sao cho đỏ môi nhau thì làm”. Không lý mỗi lần gặp nhau lại thi đua cứ môi nhau mà gặm, mà nhay, mà cắn cho môi nhau đỏ? Nhưng phải cùng nhau nhai trầu vì theo tục lệ cổ truyền của dân tộc ta, không chỉ “miếng trầu là đầu câu chuyện”, mà nhất là còn mang lắm mục tiêu cao cả: “Trầu này, trầu nghĩa, trầu tình - trầu nhơn, trầu ngãi, trầu mình với ta”.
Phải chăng vì nhiều ý nghĩa cao đẹp của miếng trầu trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong các nghi lễ như tiếp khách, đón bạn, giỗ chạp, cưới xin, ma chay, khao vọng, hội hè... mà thời cổ, dân Việt đã gọi là miếng “giầu” chứ không phải “trầu” như sau này.
Con biết mình “múa rìu qua mắt thợ” khi con mô tả lại ở đây “miếng giầu”, mong cụ chấm điểm xem đúng không nhé: “Một miếng trầu thường gồm có một miếng cau (nếu cau to thì bổ làm tư, còn cau nhỏ thì áp dụng lời khuyên: “Vào vườn hái quả cau xanh, bổ ra làm sáu, mời anh xơi trầu”) - một lá trầu không, quệt vôi và kèm theo một miếng vỏ chay; có nơi giã thêm một mẩu thuốc lào để làm tăng độ say của trầu.
Có thể là “trầu têm”: Sau khi quệt vôi trên lá trầu không thì gấp lại cho gọn và đẹp - Có thể là “trầu bài”, nghĩa là chỉ quệt vôi trên lá trầu không rồi đặt lên đĩa chứ không gấp lại.
Sở dĩ cau - trầu - vôi phải luôn luôn được cuộn vào với nhau như vậy là bởi sự tích thế này, cụ ạ: Thời Hùng vương, có hai anh em nhà nọ mồ côi cha mẹ cùng thương một thôn nữ nhưng người anh được kết duyên với cô gái. Người em đau buồn bèn bỏ nhà ra đi, đến một bờ suối ngồi khóc rồi hóa thành một tảng đá (vôi). Người anh thương em nên bỏ nhà đi tìm em, cũng đến bờ suối ấy ngồi khóc đến chết rồi hóa thành cây cau mọc cạnh tảng đá. Người vợ nhớ thương chồng bèn đi tìm, đến bờ suối rồi ngồi dựa vào tảng đá, tay vịn lên thân cây cau mà khóc than rồi biến thành cây trầu không leo lên thân cây cau. Dân chúng trong vùng biết chuyện, bèn lập đền mà thờ ba người. Ai cầu gì cũng được như ý nhất là về gia đạo.
Một lần, vua Hùng đi tuần thú qua đấy, thấy cây xanh tốt mọc bên tảng đá nên hỏi thăm thổ dân. Sau khi biết được sự việc, vua lấy làm thương tâm rồi sai lính lấy quả cau bổ thành miếng, lấy đá nung thành vôi rồi quệt vào lá trầu rồi bỏ vào miệng cả 3 thứ đó mà nhai. Nhà vua thấy thơm cay đặc biệt khi nhả bã, thấy nước đỏ như máu. Nhà vua bèn truyền cho bàn dân thiên hạ cách thức ăn trầu nhất là trong các nghi lễ cưới xin. Từ đó tục lệ này lan rộng khắp nơi ở nước ta cho tới ngày nay..

Nguyên nhân nào khiến cụ rơi xuống?
“Một cụ già 83 tuổi mà còn trèo cao như vậy mà ngã xuống thì đó là lẽ đương nhiên rồi”. Theo con, giải đáp như thế chỉ để “huề vốn”. Nguyễn Thị Lệ chứ đâu phải thứ gái tơ mà té dễ dàng như vậy. Lão này vốn “càng già, càng dẻo, càng dai” chứ nhằm nhò gì ba thứ trò chơi “con mèo mà trèo cây cau”. Bởi thế con phải điều tra, phải đặt ra nhiều giả thuyết. Cụ sống khôn chết thiêng, giúp con “hoàn thành tốt công tác này” để ít nhất cụ được mỉm cười (dù cụ chẳng còn răng) nơi chín suối còn con kiếp sau thành công lớn trong nghiệp “trèo tường khoét ngạch”, cụ nhé.
Trước hết, con tìm đến những người chuyên nghề leo dừa. So sánh giữa cau và dừa, trèo cau khó hơn nhiều vì thân cau nhỏ hơn dừa và thường cao hơn dừa nên cũng đòi hỏi “trần ai khoai củ” gấp bội.
Muốn trèo cau hay dừa, dân trèo thường phải dùng đến “vòng số 8”, tức là lấy một sợi dây thừng rồi thắt nút buộc thành vòng tròn, sau đó xoắn lại ở giữa thành hình số 8. Dân chuyên nghiệp gọi là “sợi nèo”. Người trèo luồn bàn chân vào hai ô trống số 8 ấy. Khi trèo, hai bàn chân bám vào cây; đoạn dây thừng giữa hai bàn chân bị ép vào thân cây cau hay dừa nên người trèo không bị tụt xuống. Người trèo nhớ phải cong rướn thân mình lên để ngực không cà vào thân cây. Hai tay ôm chặt vào thân cây, co hai chân lên theo. Cứ vậy mà nhích từng phát một.
Người ngoài gia đình cụ, không ai nghe nói cụ phải nhờ cậy đến “sợi nèo” khi trèo cau. Nếu ở tuổi 83 mà cụ chỉ lao động bằng đôi chân và hai tay để “thăng thiên” thì cụ đúng là... thứ dữ, độc nhất vô nhị.
Con được nghe ông Ba Lạt, người chuyên leo dừa cũng ở Bến Tre như cụ, nhưng lại là dân xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, kể là “leo dừa nguy hiểm nhất là những lúc trời vừa mưa xong vì thân cây trơn trượt... Có những lần bị mất thế, nếu buông tay thì sẽ bị rơi thẳng xuống đất, có thể bị gẫy cổ, gẫy xương. Tôi đành phải cắn răng ôm thân cây tuột thẳng xuống dù biết chắc là sẽ rách bươm da thịt”.
Vẫn theo lời ông Ba Lạt, “xước da thịt thì còn... may mắn lắm đấy, vì vẫn giữ được mạng sống đến giờ này, ấy cũng là nhờ phúc phần của ông bà, tổ tiên”. Đã có rất nhiều tai nạn thương tâm của những thợ leo dừa. Ông Ba Lạt kể tiếp: “Ông Năm Nhựt ở xã Lương Hòa, thâm niên leo dừa đã trên ba chục năm, vậy mà chỉ một lần bất cẩn bị té từ ngọn dừa cao mươi mét xuống đất, tuy không chết nhưng phải nằm liệt một chỗ suốt quãng đời còn lại vì bị gẫy xương sống... Còn ông Sáu Ân ở kênh Chẹt sậy, cũng là người nổi tiếng về tài leo dừa, với thành tích một ngày có thế hái trên ngàn trái dừa, vậy mà cùng sơ ý nên đã sớm thiệt mạng sau một tai nạn nghề nghiệp vì bị bể sọ”.
Thưa cụ, so với các nam đồng nghiệp trẻ tuổi trên, chỉ khác người leo dừa, kẻ trèo cau, cụ vẫn trội hơn họ không chỉ vì cụ là phận nữ nhưng bởi cụ đã rơi từ trên cao hơn, những 20 thước cơ mà. Vả lại cụ “trèo cau giỏi từ thưở nhỏ” mà mãi đến 83 tuổi cụ mới... rơi - vả chỉ rơi một lần duy nhất, tuy cụ có... chết nhưng không hề bị thương. Trong khi ông Ba Lạt, mới 53 tuổi mà đã “trầy xước da thịt liên miên, lại không chỉ ngực và bụng, hai cánh tay cũng đã đầy sẹo”. Ông “nhờ phúc phần của ông bà, tổ tiên” mà nay ông còn sống nhưng ông đã phải giải nghệ leo dừa. Còn ông Nam Nhựt, chỉ một lần “hạ cánh” xuống đất mà nay “phải nằm liệt vĩnh viễn một chỗ vì bị gẫy xương sống”. So độ cao với cụ, ông Nhựt còn thua cụ cả chục thước, vậy mà cụ không bị gẫy xương gì cả, chỉ “nằm bất động” mà thôi. Trong khi đó ông Sáu Ân với thành tích “một ngày hái trên ngàn trái dừa” mà vẫn bị sớm thiệt mạng. Cụ thì “trèo cau từ thuở nhỏ” mà không một lần sơ ý nên mãi đến tuổi 83 mới “đáp” mà “đáp... sân nhà” chứ không ở “sân khách” khi đi mần ăn xa. Tuy cụ và Sáu Ân giống nhau ở điểm cùng chết, nhưng hai cái chết khác nhau xa; Sáu Ân thì bị “bể sọ” còn cụ thì như trong mơ, chỉ “nằm bất động”.
Vậy thì nguyên nhân nào mà cụ lại rơi? Bà Nguyễn Thị Mười Hai, “là người đàn bà duy nhất làm nghề leo dừa” ở ấp Bờ Xe, Châu Thành, Tiền Giang”, năm nay vừa tròn “bốn bó” xuân xanh. Bà Mười Hai tâm sự: “... Hầu như ngày nào tôi cũng bị ong đốt hay kiến độc cắn. Đau buốt lắm, có hôm sưng vù khắp người... Cũng may mà gặp rắn lục, rắn hổ hành nhưng chưa lần nào bị chúng cắn vào người. Bằng không...”.
Vâng, đây rất có thể là “kỳ phùng địch thủ” của cụ. Bà Mười Hai cho biết thêm là “mới chỉ bị ngã một lần từ cây dừa xuống đất, từ độ cao chừng 3 mét. Khi ấy Mười Hai đang mang thai tháng thứ 6. May mà bà mụ thương đỡ giùm nên cái thai không hề hấn gì”.
Vậy thì cụ cũng có thể bị rơi xuống sân nhà vì bị ong đốt, kiến cắn hay rắn đe dọa chăng? Khó tin, bởi vì cụ “trèo cau từ thưở nhỏ” nên với vô vàn kinh nghiệm sương gió và mồ hôi cùng nước mắt, những thứ cạm bẫy ấy đối với cụ vẫn chỉ là “chuyện nhỏ”, thường còn hơn cơm bữa. Vả lại vì cụ leo trèo nhiều nên da thịt cụ cũng đã chai sạn đến độ ong, kiến hay cả rắn đi nữa có đốt hay cắn thì cũng chẳng gây hề hấn gì cho cụ nếu không muốn nói chính chúng lại bị gẫy vòi, gẫy răng...
Thiết tưởng, theo con suy luận, cụ chỉ bị “sự cố” ở chỗ vô cùng nhạy cảm khiến cụ vô ý buông một tay ra định xoa nơi hiểm hóc ấy khiến cụ mất thề mà... rơi: Thưa, bướm già cụ chợt ngứa.

Một cái chết linh thiêng
Phải, cái chết của cụ khác thường, quá linh thiêng. Cụ rơi từ 20 thước xuống “sân nhà” mà con cháu nhìn ra thấy “cụ nằm bất động” - chứ không như người thường, rớt từ lầu 3 xuống đất thì không vỡ đầu thì sơ sơ cũng gẫy xương, trẹo cổ và nhất là máu me ra xối xả. Cụ thì không, chỉ “nằm bất động” y như thể “thiếu nữ ngủ ngày” trong bài thơ của bà Hồ Xuân Hương: “Mùa hè hây hẩy gió nồm đông - Bà cụ nằm chơi quá giấc nồng”. Cặp chân cụ vốn trèo cau từ thưở nhỏ nên cong vòng kiềng, nên khi “cụ nằm (ngửa) bất động” mà chết, đôi đũng quần rách bươm nên thoạt nhìn thấy giống “Hang Cắc Cớ” cũng của nữ thi sĩ họ Hồ: “Trời đất sinh ra đá một chòm - nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom... Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm”.
Đối với cổ nhân Việt Nam, cụ qua đời ở tuổi 83 vẫn được kể là chết trẻ, bởi vì các cụ bà khác “đã tám mươi tư - (vẫn) ngồi trong cửa sổ viết thư kén chồng” cơ mà! - (HM)

Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.
Hoài Mỹ/Viễn Đông

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/con-xin-cung-vong-linh-cu-mot-coi-trau-65ASpZkp.html
Bạn thích bài này?
Bookmark and Share

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo
Quảng cáo
Quảng cáo
RAO VẶT VIỄN ĐÔNG
Quảng cáo
Quảng cáo
Sản phẩm - Dịch vụ

Lỗi lầm chết người làm tiêu mất $400,000 trong quĩ hưu IRA

Mấy tuần nay, chúng ta đang nói về các quyền lợi của quĩ hưu, như 401 K và IRA. Không đơn thuần là quĩ tiết kiệm, các quĩ hưu nói trên là trương mục đầu tư, nghĩa là tiền có thể đẻ ra tiền hoặc phút chót tiền có thể bốc hơi.

Quĩ Hưu 401 K và Quĩ Hưu IRA

Quĩ Hưu 401 K là một trương mục đầu tư được xây dựng để người đi làm có thêm tiền xài cho những ngày về hưu. Đây là tiền người đi làm tự ý dành ra, khác với số tiền họ buộc phải đóng vào quĩ An Sinh Xã Hội (Social Security Adminstration, gọi tắt là SSA) hàng tháng.

Chọn lựa đầu tư trong quĩ hưu 401 K (bài 2)

Bài trước chúng ta đã bắt đầu nói đến cách thức đầu tư trong quĩ hưu 401 K. Để đáp ứng nhu cầu của người đầu tư bình dân, các chuyên viên tài chánh đã “tạo ra” các Mutual Funds, rồi phân hạng chúng theo mức độ rủi ro. Hai sáng kiến này đã đơn giản hóa vấn đề chọn lựa đầu tư khá nhiều. Nhưng cuối cùng chúng ta – và chính chúng ta

Chọn lựa đầu tư trong Quĩ Hưu 401 K

Như chúng ta đã biết, mở quĩ hưu 401 K là một hình thức đầu tư. Mà đầu tư thì luôn luôn có may rủi. Nếu thuận buồm xuôi gió, gọi chung là “may,” chúng ta sẽ được lời nhiều, có thể gấp đôi, gấp 3 hoặc gấp cả chục lần. Nếu sự việc không xảy ra như mong muốn, gọi chung là “rủi,” chúng ta sẽ được ít lời

Quĩ hưu 401K: Nên chăng?

Bài trước chúng ta đã đề cập những lợi điểm căn bản của Quĩ Hưu 401 K. Chỉ nghe nói về những lợi điểm ấy, chắc ai cũng muốn có một quĩ hưu như vậy. Nhưng thực tế thì sao? Có khá nhiều người có đủ tiêu chuẩn mở Quĩ Hưu, nhưng lại bỏ quyền lợi ấy. Còn những người thực sự tham gia, thử hỏi mấy ai nhìn thấy đồng tiền

Món quà của Uncle Sam: 401 K

Làm dân Mỹ là phải biết Uncle Sam, một người “chú” không mấy được ưa thích do bản tính thích đòi hỏi tiền bạc từ trong túi người dân. Uncle Sam, biệt danh của Sở Thuế Liên Bang, chả mấy khi cho ai quà cáp gì. Nhưng nói thế không có nghĩa là không bao giờ có. Trong số những món quà ít ỏi mà Uncle Sam dành cho người đi làm và đóng

Đi tìm một cách tránh thuế?

Lần trước, chúng ta có đề cập việc sử dụng “quĩ hưu” để có thêm quyền lợi cho tuổi già. Trước khi xem xét chi tiết của từng loại quĩ hưu, chúng ta cần biết tác dụng của thuế đối với các quĩ này như thế nào. Trước tiên, thuế được hiểu là số tiền chúng ta phải trích ra từ những gì mình nhọc công tích lũy được

Quyền lợi của tuổi già?

Đọc cái tiêu đề trên, chắc nhiều người nghĩ tới … tiền già (tiền SSI), là khoản tiền mà xã hội Hoa Kỳ biếu không cho những người từ 65 tuổi trở lên, hoặc bệnh tật ngặt nghèo, không còn đủ sức khỏe đi làm tự nuôi sống bản thân, mà quá trình đóng góp khi còn đi làm việc cũng không đủ bảo đảm một lợi tức tối thiểu để sinh sống.

Dùng ‘đòn bẩy’ khi mua nhà

Đòn bẩy là một nguyên tắc vật lý, được ứng dụng để nâng nhắc đồ vật cho dễ dàng hơn. Biết áp dụng nguyên tắc này, chúng ta có thể nâng được những thứ rất nặng nề mà chỉ cần bỏ ra một phần công sức không đáng kể. Hình ảnh rõ ràng nhất là một người đang muốn lăn một hòn đá lớn, nặng tới vài trăm ký

Đánh giá thị trường địa ốc qua Appreciation Rate

Với một căn nhà mua $330,000 mà bán $550,000, nhiều người cho rằng người chủ nhà đã lời được $220,000. Không hẳn đó là số tiền người bán nhà đút vào túi mình đâu. Đó mới là mức sai biệt giữa hai con số.
Quảng cáo