Friday, 28/08/2015 - 08:57:49

Đền thờ Đào Duy Từ (kỳ 2)

Bài TRẦN CÔNG NHUNG

Tuy ông sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa nhưng làng Tùng Châu, xã Hoài Thanh (Hoài Nhơn) mới thật là đất dụng võ của Đào Duy Từ, nơi đã hun đúc tài năng và ý chí của ông, giúp ông khởi nghiệp lớn. Sau khi ông qua đời, chúa Nguyễn cho đưa thi hài về mai táng và lập đền thờ tại đây. Hiện nay trên vùng đất thuộc Tùng Châu xưa vẫn còn một số di tích liên quan đến Đào Duy Từ .
Di tích lăng mộ Đào Duy Từ nay thuộc địa phận thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được cấp 15 mẫu tự điền và sáu người trông coi phần mộ. Đến năm Minh mệnh 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại tôn tạo lăng mộ cho ông. Trải qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ ông bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần đây nhất vào năm 1999.

Khu lăng mộ ở thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Di tích Nhà thờ Đào Duy Từ hiện tại thuộc thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn. Nhà thờ nằm trong khuôn viên một thửa đất hình chữ T có diện tích 1.616 m2, được xây dựng vào năm Tự Đức 12 (1859), đã qua nhiều lần trùng tu. Nhà thờ có tam quan cao khoảng 6m, hai mái lợp ngói âm dương, trên có bốn chữ lớn “Quốc Công Từ Môn” (cổng đền thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, hai bên đắp phù điêu hình hai con dơi cách điệu, đường nét khá sắc sảo, bốn trụ góc có hình rồng uốn lượn. Qua Tam Quan có sân nhỏ hình chữ nhật, kích thước 6.9m x 7.8m. Tiếp đến là bình phong đắp hình long mã lưng có hà đồ nỗi trên mặt nước, mặt sau đề bốn chữ “Bách Thế Bất Di” (Trăm đời không thay đổi). Ở hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Đào Duy Từ:

Ngọc sơn chung tú Bắc
Bồng lãnh hiển danh Nam
(Núi Ngọc hun đúc tinh hoa xứ Bắc
Non Tiên vẻ vang danh tiếng miền Nam)
(Nguyễn Nam Ninh dịch)

Cách đều bình phong 2.6m về hai bên có hai cột trụ cao 4m, trên đỉnh đắp tượng hạc đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn hình chữ nhật với kích thước 15.4m x 14m, qua sân lớn đến nhà thờ được thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc truyền thống ở Bình Định. Khám thờ bên trong có bài vị của Đào Tá Hán , Nguyễn Thị Minh(1) (thân phụ và thân Mẫu của Đào Duy Từ), Đào Duy Từ và vợ. Trên bài vị Đào Duy Từ có dòng chữ “ô Thủy tổ khảo nội tán Lộc khê hầu Đào Công, tặng Khai Quốc công thần, đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các đại học sỹ, Thái sư, nhưng thủy Trung Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ” Bài vị của vợ Đào Duy Từ viết “ô Thủy tổ tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong nhà thờ còn có đôi câu đối nhưng nay đã sứt mòn, mờ không đọc được.
Di tích nhà thờ Đào Duy Từ tại thôn Cự Tài thuộc xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn. Sách đại nam Nhất Thống chí và đồng khánh dư địa chí đều chép đền thờ Hoàng Quốc Công Đào Duy từ ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn (nay là Hoài Nhơn). Trong chiến ranh nhà thờ này đã bị sụp đổ. Năm 1978 dòng họ Đào xin kinh phí tỉnh Nghĩa Bình để xây dựng lại đền thờ trên nền cũ, hiện chỉ còn lại hai trụ cổng và tấm đại tự cũng đề “Quốc công từ môn” (giống như nhà thờ ở thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây) là dấu tích kiến trúc năm Tự Đức thứ 32 (1880) và lần trùng tu năm Khải Định thứ 1 (1861). Trong đền thờ khám thờ là bài vị Đào Duy Từ cũng ghi giống như bài vị bên nhà thờ thôn Ngọc Sơn.

                                     Nhà thờ ở Ngọc Sơn (Trần Công Nhung/Viễn Đông)

Ngoài ra, tại thôn Ngọc Sơn còn có lăng Đào Tá Hán. Truyền rằng khi đã làm quan ở Thuận Hóa, Đào Duy từ cho đắp mộ phụ thân rồi tung tin rằng đã đưa hài cốt cha mẹ vào đây, phòng việc trả thù của họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Lăng mộ nằm trên một quả đồi rộng. Cũng tại Ngọc Sơn hiện có một ngôi chùa nhỏ, tương truyền là nơi đi tu của bà vợ cả họ Đào.
Những di tích kể trên, theo đơn vị hành chính hiện nay, nằm ở các thôn, xã khác nhau (lăng mộ Đào Duy Từ tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, nhà thờ và lăng mộ Đào Tá Hán tại thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây và nhà thờ ở thôn Cự Tài, xã Hoài Phú ) nhưng tất cả vốn đều thuộc vùng đất của trại Tùng Châu xưa. Đây là những xã thôn mà hiện nay con cháu Đào Duy Từ còn rất đông đảo, đặc biệt là ở thôn Cự Tài.
Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 (âm lịch) là ngày giỗ Đào Duy Từ, con cháu họ Đào tổ chức cúng tế rất long trọng. Theo quy ước, cứ vào dịp này con cháu dòng tộc điều nghỉ việc đồng áng trong ba ngày. Sau khi làm lễ thắp hương tại lăng mộ Đào Duy Từ (thôn Phụng Du) con cháu về họp mặt và dâng hương tại đền thờ cha mẹ và vợ chồng Đào Duy Từ ở thôn Ngọc Sơn rồi sau đó mới trở về tế lễ chính thức tại đền thờ Đào Duy Từ ở thôn Cự Tài.


Mộ ở thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Ngoài ngày giỗ chính (17 tháng 10), hàng năm tại các di tích trên còn có 5 ngày lễ phụ vào dịp Đông chí, Chạp mả, Thanh minh, Trung thu và Tết Nguyên Đán. Ngày giỗ Đào Duy Từ cũng là ngày con cháu phối hợp cúng tế thân phụ và thân mẫu cùng vợ của ông. Duy bà vợ cả còn có ngày riêng là 12 tháng 2 âm lịch tại chùa tu của bà ở thôn Tài Lương. Giỗ bà hàng năm (gọi là tiểu chẩn cúng chay), cứ mười năm (gọi là trung chẩn), lễ vật có thêm đôi chim sống, một đôi gà sống, cúng xong thả chim gà ra, con cháu thi nhau đuổi bắt, cứ 30 năm (đại chẩn) mới làm cỗ mặn.
Báo Bình Định (http://www.baobinhdinh.com.vn/) có giới thiệu đền thờ Đào Duy Từ ở làng Lạc Giao thành phố Buôn Mê Thuột: "Đình Lạc Giao phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, được lập năm 1929, là ngôi đình làng đầu tiên của những người Việt (Kinh) từ đồng bằng lên đây lập nghiệp, thờ vị thành hoàng làng là Đào Duy Từ.”
Ngôi đình ban đầu làm bằng tranh tre, năm 1932, ngôi đình được xây dựng lại bằng gạch lợp ngói theo hình chữ Môn, gồm có nhà thờ Thần Hoàng và những người có công với nước, hai nhà tả hữu hai bên dùng làm nơi hội họp mỗi khi tế lễ, phía trước có cổng tam quan đi vào, sau cổng có bức bình phong có chạm khắc hổ phù, sau nữa là một lư hương lớn. Làng Lạc Giao hình thành bắt đầu từ những người bị tù lưu đày xa xứ, rồi những dân phiêu bạt từ các vùng đất miền Trung nghèo khó tìm nơi lập nghiệp sinh sống, những công chức, thầy giáo, binh lính được bổ nhiệm lên vùng đất xa xôi này. Ban đầu chỉ dăm nóc nhà dọc theo con đường suối Ea Tam, xóm người Việt ấy được gọi là thôn Nam Bang. Họ làm rẫy dọc theo khu rừng già ven suối, bên cạnh một buôn của Ama Thuột. Năm 1924, họ gọi xóm người Việt di cư đến là Lạc Giao với ý nghĩa: Lạc là con Lạc cháu Hồng, Giao nghĩa là nơi bang giao Kinh - Thượng. Tên gọi Lạc Giao là lời nguyền giao ước an cư lạc nghiệp của đồng bào Kinh- Thượng, cùng chung lưng đấu cật xây dựng vùng đất mới.




Bình phong lăng ở thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn (Trần Công Nhung/Viễn Đông)



Năm 1925, làng Lạc Giao được mở rộng bao trùm cả một khu vực rộng lớn ở ngay trung tâm Buôn Ma Thuột. Tài liệu của đình Lạc Giao ghi: ông Phan Hộ, người Quảng Nam, vào Ninh Hoà (Khánh Hoà) sinh sống. Thuở ấy, lên cao nguyên Dak Lak chưa có đường, ông Phan Hộ cùng một số trai tráng đi bằng voi, ngựa xuyên rừng vài tháng mới tới vùng M'Drak rồi đến Buôn Ma Thuột trao đổi hàng hoá với người Ê Đê, thấy người dân ở đây giàu lòng mến khách, đất đai màu mỡ lại dễ làm ăn, nên ông vận động nhiều gia đình lên đây sinh sống, khai hoang lập làng.
Nỗi nhớ thương quê nhà bản quán khôn nguôi khiến họ thường tìm nhau gặp gỡ, trao đổi công việc làm ăn. Để có nơi cúng kiếng ông bà tổ tiên, nhắc chuyện quê hương làng xóm, họ đã góp tiền của công sức dựng nên ngôi đình ngôi đình Lạc Giao cho thỏa lòng mong ước. Đình Lạc Giao ra đời ghi dấu bước chân của người Việt trên mảnh đất cao nguyên, là nơi mọi người cầu mong sức khoẻ và làm ăn phát đạt, nơi thờ các vị tiền hiền và người có công với đất nước, nơi sinh hoạt trong những ngày lễ tết của cư dân Việt trên vùng đất mới.

                  Nhà bia ở thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn (Trần Công Nhung/Viễn Đông)


Năm 1932, vua Bảo Đại ra chiếu sắc phong cho Thành hoàng của làng là Đào Duy Từ, khẳng định đây là đất của "Hoàng triều cương thổ".
Đúc kết, chúng ta thấy cuộc đời của Đào Duy Từ trải qua bao thăng trầm, biến thiên ẩn dật, cứ như chuyện giai thoại thần tiên mà một người bình thường dù tài trí mấy cũng khó vượt qua. Một bậc danh nhân toàn tài như Đào Duy Từ, đã cống hiến toàn lực cho công cuộc mở nước về phương Nam, đáng được các vua Triều Nguyễn tôn vinh, nhân dân tôn thờ. Một bài học “Hữu xạ tự nhiên hương” không phải nhọc công hò hét kêu gọi, ép buộc người khác sùng bái bằng xảo ngôn bất chính, tuy đắc thế một thời nhưng muôn đời sau sẽ bị nguyền rủa.
Trần Công Nhung (2015)

(1) Về tên mẹ của Đào Duy Từ, có tài liệu nói bà là Nguyễn Thị Minh sau đổi ra Vũ Thị Kim Chi để Đào Duy Từ cãi sang họ mẹ là Vũ Duy Từ. Nhưng lại có tài liệu nói Vợ của Đào Tá Hán (cha ĐDT) là Vũ Thị Kim Chi, con gái tiên chỉ Vũ Đàm. Trong thời gian Đào Tá Hán đi hát Vũ Đàm đã gả con gái cho. Cuộc đời ĐDT lúc còn bé đi học, lớn đi thi, đổi họ, lưu lạc vào Nam, v.v. rất phức tạp. Nhất là thời gian ông ẩn dật cho đến năm 53 tuổi mới gặp chúa Nguyễn, nhiều người cho là không đúng. Bởi thế những sự kiện này có người đưa vào dạng “giai thoại.”
Liên lạc với tác giả qua email: trannhungcong46@gmail.com

 

Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook
advertisements
advertisements