Băng Huyền/Viễn Đông

Từ trái qua phải, soạn giả Yên Lang, giáo sư Nguyễn Thanh Giàu, ông Nguyễn Minh Chiêu (hội trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Hải Ngoại) tại thư viện nhật báo Viễn Đông – ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông
Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Hải Ngoại tổ chức thi giọng ca cổ nhạc cải lương Bạch Hổ 2012
Tuần qua, nhân chuyến viếng thăm tòa soạn nhật báo Viễn Đông của đại diện Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Hải Ngoại, bao gồm ông Nguyễn Minh Chiêu (hội trưởng) và hai thành viên, soạn giả Yên Lang và giáo sư Nguyễn Thanh Giàu, các vị đã nhờ nhật báo Viễn Đông phổ biến đến đồng hương tin tức về cuộc thi giọng ca cổ nhạc cải lương “White Tiger” (Bạch Hổ) 2012 do Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Hải Ngoại tổ chức, vòng sơ kết được dự định sẽ khai mạc vào đầu tháng 4 năm 2012. Cuộc thi nhằm mục đích duy trì, phát huy bộ môn nghệ thuật cải lương của dân tộc, đồng thời tạo sân chơi lành mạnh cho những ai yêu thích nghệ thuật cải lương và tìm kiếm những giọng ca triển vọng của cổ nhạc cải lương tại hải ngoại.
Theo lời ông Nguyễn Minh Chiêu thì ngay từ năm 2000, khi còn là hội trưởng Hội Ái Hữu Gò Công, ông đã đứng ra thực hiện cuộc thi tuyển chọn giọng ca cải lương, do Hội Ái Hữu Gò Công trong vai trò ban tổ chức. Sau đó cuộc thi được mọi người hưởng ứng nhiệt tình, nhiều thí sinh ghi danh dự thi, với tên gọi Giải Thưởng Phụng Hoàng. Nhưng đến năm 2006, vì nhiều nguyên do, cuộc thi đã không duy trì nữa. Nay, cuộc thi đã được tổ chức lại, là một trong những hoạt động văn hóa mà Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Hải Ngoại muốn gìn giữ và phát triển. Ban tổ chức đã bắt đầu nhận đơn ghi danh của các thí sinh. Để biết thêm chi tiết, quý độc giả có thể vào trang nhà của hội www.hoinghesihaingoai.com hoặc email: lienlac@ hoinghesihaingoai.com.
Nhân dịp này, người viết đã có buổi trò chuyện với soạn giả Yên Lang và giáo sư Nguyễn Thanh Giàu về nét độc đáo của những điệu hát trong cải lương. Bởi đây chính là linh hồn của nghệ thuật cải lương. Vẻ đẹp này rất cần được phổ biến, để khán giả yêu cải lương càng hiểu hơn nét đặc sắc của nghệ thuật vốn gắn bó như “máu, thịt” với người dân miền Nam.
Nét đẹp của cải lương
Nghệ thuật sân khấu cải lương là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, bao gồm: ca, hát, múa, nhạc, kịch và nhiều loại hình nghệ thuật khác được trình diễn trên sân khấu. Trong đó, âm nhạc tài tử là chính yếu. Không có âm nhạc tài tử trong một vở diễn sẽ không thành hình một vở cải lương. Đó chỉ là một vở kịch nói. Ngược lại, nếu chỉ có ca những bài ca cổ nhạc mà không có diễn xuất thì người nghe sẽ hiểu đó là đờn ca tài tử chớ không phải là hát cải lương.
Kịch bản cải lương là mắc xích những lời thoại và lời ca theo một cốt chuyện, và nghệ thuật âm nhạc là một trong số những nghệ thuật quan trọng nhất.
Thông thường, sau khi đã có tứ văn, cốt chuyện, bố cục và dàn ý, soạn giả bắt đầu tô điểm kịch bản bằng văn vẻ cải lương. Tiếp theo, họ trích những đoạn, lớp, câu nào trong hệ thống bài bản tài tử phù hợp với tình huống kịch tính trong vở để soạn lời, nhằm mượn giai điệu của âm nhạc tài tử chuyển tải tình cảm của kịch bản đến người thưởng thức.
Soạn giả Yên Lang nhận xét: “Một bản tân nhạc của Pháp, Mỹ… chỉ cần đưa cho người Việt Nam không kể Nam-Trung-Bắc, có trình độ âm nhạc chút xíu, sau khi nghe qua cung điệu, có thể hát lại được bản nhạc đó, hoặc chuyển lời qua tiếng Việt…
“Bản cổ nhạc của miền Nam, thì không có bất cứ dân tộc nào ca được. Cả dân tộc Việt Nam, chỉ khác nhau miền Nam Trung Bắc, đã ca cổ nhạc rất khó khăn rồi. Người miền Trung, Bắc ca tân nhạc rất hay, nhưng khi ca vọng cổ rất khó. Kể cả anh người Mỹ, Pháp… nói tiếng Việt rất rành, tập ca cổ nhạc cũng khó mà ca được. Phải học tiếng Việt rất lâu, nói tiếng miền Nam nhuần nhuyễn lắm, mới có thể hát nghe tạm được. Nhưng cổ nhạc với người miền Nam rất dễ dàng, kể cả cô lái đò cũng hát được cổ nhạc, mấy em nhỏ chăn trâu vẫn có thể nghêu ngao hát cổ nhạc rất ngọt ngào. Nhưng khi xê dịch địa phương đất đai hơi khác một chút, là đã khó mà hát được. Nét độc đáo, cái dễ và khó của cổ nhạc là ở chỗ đó. Nếu chúng ta để nó mai một thì uổng lắm”.
Soạn giả Yên Lang cho rằng: “Bộ môn nghệ thuật cải lương là nghệ thuật tổng hợp và trực tiếp. Vì là nghệ thuật tổng hợp, nên mọi bộ môn trong cải lương đều quan trọng và được nâng cao. Khán giả ngồi trực tiếp xem, khi sân khấu mở màn trình diễn, các nghệ sĩ không có quyền nói, xin lỗi tôi hát hư, xin kéo màn, để hát lại. Dù nghệ sĩ chỉ là một anh lính hầu, nhưng cũng phải được tập tuồng kỹ càng. Kể cả người kéo màn, không phải muốn kéo màn sao thì kéo. Có những lúc màn kéo từ từ để nghệ sĩ diễn đoạn kết của lớp diễn đó, khớp theo tình cảm của vở diễn, vui hay buồn, cách kéo màn cũng khác nhau”.
Nét độc đáo của bài bản âm nhạc cải lương
Theo lời soạn giả Yên Lang thì hầu hết bài bản sử dụng trong sân khấu cải lương là những khúc nhạc được trích từ bài bản âm nhạc nhạc tài tử. Trong số gần 100 bài bản âm nhạc của cải lương có sẵn, khi viết kịch bản, không phải soạn giả muốn đưa vô tuồng cải lương của mình bản cổ nhạc nào cũng được, mà phải tùy theo tình huống kịch, hoàn cảnh, tâm trạng nhân vật…. Đây chính là nghệ thuật độc đáo của soạn giả kịch bản cải lương, đòi hỏi người soạn giả phải có nhiều kinh nghiệm, gắn bó với sân khấu, biết làm thơ, để câu văn đẹp về ý tứ, vần điệu, phải có độ cảm và sự tinh tế sâu sắc… thì vở tuồng mới dễ dàng đi vào lòng khán giả.
Thông thường, các soạn giả chỉ trích ra một lớp, một đoạn, hoặc một câu hay một số câu của bất kỳ một bài bản nào trong hệ thống bài bản âm nhạc tài tử, nhằm diễn đạt được tình cảm, kịch tính tức thời của vở diễn. Ví dụ: Trong vở “Đêm Lạnh Chùa Hoang” của mình, soạn giả Yên Lang đã đưa bản xế xảng vào lớp diễn chia tay, để nói lên mối tình bế tắc không lối thoát giữa chàng dũng tướng Tần Lĩnh Sơn với nàng quận chúa Mông Cổ Hồ Bảo Xuyên.
Soạn giả Yên Lang giải thích: “Lúc vui rộn rã, đoạn ngắn, gọn, soạn giả khi đưa vào vở tuồng mình viết thường dùng các bản:
Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán…
“Khi niềm vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản: Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.
“Khi buồn cách biệt, bi thảm, thường dùng các bản: Văn Thiên Tường, Nam Ai lớp mái, Trường Tương Tư, Xuân Nữ. Xế xảng…. Văn Thiên Tườngng thì dài hơn, có trao đổi, đối thoại. Còn Xế Xảng thì tương đối ngắn hơn, nó là lời tự tình than vãn, diễn tả thảm não trong lòng của nhân vật. Còn Văn Thiên Tường lớp dựng, thì dùng để đối thoại cho 2 nhân vật với nhau trong tình cảm bế tắc….
“Còn lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dùng các bản: Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê….
“Riêng Tứ Đại Oán, điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và mộc mạc hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.
“Văn Thiên Tường trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo não. Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.
“Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.
“Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng: vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi, cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.
“Lúc giận dữ, đối đáp có tính chất gay gắt, dứt khoát, thường dùng các bản: Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.
“Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hiền hòa, dùng các bản:
Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Ta.... Còn khi thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản: Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v..
“Xuân Nữ thì ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thương đột ngột”.
Một trong số những bản nhạc tài tử được ưa chuộng nhất trong việc thể hiện tình huống sân khấu cải lương, là bản vọng cổ. Bằng giai điệu, sắc thái phóng khoáng, linh hoạt, thể hiện được nhiều “cung bậc” của tình cảm, phù hợp với nhiều loại tâm trạng từ buồn rầu đến oán giận căm thù, vọng cổ chan chứa yếu tố trữ tình hoặc trần thuật. Vọng cổ là nét biểu trưng duy nhất của cải lương. Khán giả xem cải lương hay nghe cải lương cũng chờ đợi, nghệ sĩ lên vọng cổ... xuống câu "hò'', tựa hồ như họ đang nín thở để thưởng thức. Rồi ngất ngây thả hồn theo chất giọng của thanh âm người nghệ sĩ trình diễn. Cũng chính qua bài vọng cổ, mà nhiều nghệ sĩ cải lương đã tạo tên tuổi lẫy lừng trong công chúng. Trong bài viết khác, chúng tôi sẽ đề cập kỹ hơn về nét độc đáo của bản vọng cổ, để thấy rằng quả không sai khi người ta ví von “vọng cổ là bà chúa của cải lương”.
Nét ca diễn bài bản cải lương của nghệ sĩ
Giáo sư Nguyễn Thanh Giàu cho rằng: “Sân khấu là cuộc đời thu hẹp. Những gì diễn tiến trên sân khấu, người ác sẽ bị quả báo, người lành sẽ gặp điều thiện, là những bài học giá trị của văn hóa Việt Nam. Khi ra hải ngoại, sống với xã hội vật chất mới, nhiều khi những hình ảnh cũ của đất nước Việt Nam, những tấm gương trung, hiếu, tiết nghĩa của Việt Nam không có cơ hội phô bày ra. Bây giờ chỉ còn sân khấu, là xã hội thu hẹp lại. Thành ra, để khơi dậy, nuôi dưỡng phong trào yêu cổ nhạc tại hải ngoại, nếu không có kế hoạch duy trì, khi thế hệ chúng tôi đi qua, thì chừng hai thế hệ nữa, nghệ thuật cổ nhạc, cải lương Việt Nam sẽ mai một với thế hệ trẻ hải ngoại. Chúng tôi cố gắng gieo hạt giống, duy trì được phần nào hay phần ấy”.
Nói về nét độc đáo của bài bản cải lương, giáo sư Nguyễn Thanh Giàu chia sẻ: “Theo tôi, người nghệ sĩ cải lương tài hoa còn là những người giảng pháp tuyệt vời. Với những bài bản của cải lương, qua lời văn hay, trữ tình, mang ý nghĩa giáo dục viết từ tim óc của soạn giả, khi được nghệ sĩ thể hiện truyền cảm, sẽ dễ dàng thu hút khán giả. Từ yêu thích giọng ca, người nghe sẽ nhẩm học theo lời của vở tuồng, dần dần nó ngấm vào hồn người thưởng thức những lời dạy ý nghĩa. Giọng hát hay của nghệ sĩ sẽ đưa khán giả đến với cải lương ngày càng sâu đậm. Ban đầu chỉ là thích nghe nghệ sĩ đó hát. Dần dần thì chú ý đến cách ngắt chữ, cách đưa hơi, và các điệu hát khác nhau”.
Giáo sư Nguyễn Thanh Giàu nhận xét: “Ca vọng cổ, nghe kỹ thì có rất nhiều cách hát. Khi thì từ từ vô giọng, khi thì hát thật nhanh, khi thì phần đầu vô với giọng trầm thấp, khi thì vô lời với giọng như cao vút, gào thét hay như nghèn nghẹn trong thanh quản. Hát như là nói, nhưng không phải thật sự là nói, những lúc dừng hơi, ngân giọng….
“Người nghệ sĩ giỏi phải là người biết diễn xuất thật tinh tế giọng ca của mình theo tâm trạng, tình huống của nhân vật, chứ không phải phô diễn giọng hát đẹp…”.
Để kết thúc bài viết, xin mượn lời tâm sự của soạn giả Yên Lang và mối trăn trở của ông: “Nghệ thuật Cải Lương đã định hình và phát triển gần 100 năm, một nét đặc trưng của nền văn hóa dân tộc, dù trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, vẫn tồn tại đến ngày hôm nay. Chúng ta, dù ở trong nước hay ra ở hải ngoại, đều có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ, để khỏi phụ lòng của các bậc tiền nhân đã dày công bồi đắp. Ước mong sao khán giả đừng quay lưng với cải lương và nghệ sĩ”. - (BH)