Font-Size:
Dòng nước sông Hằng huyền diệu
(VienDongDaily.Com - 19/09/2011)
Như chúng tôi đã trình bày cùng quí vị độc giả trong số báo tuần trước, nhân dân Ấn Độ phần lớn tin tưởng rằng dòng sông Hằng (Gange) tạo ra bởi Nữ Thần Ganga...
Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông
Phụ nữ Ấn Độ thả đèn trên sông Hằng - tranh của William Simpson, 1867.
Như chúng tôi đã trình bày cùng quí vị độc giả trong số báo tuần trước, nhân dân Ấn Độ phần lớn tin tưởng rằng dòng sông Hằng (Gange) tạo ra bởi Nữ Thần Ganga là lớp tuyết trắng xóa ngàn đời trùm phủ trên các đỉnh núi cao của dãy Hy Mã Lạp Sơn. Năm năm tháng tháng Nữ Thần đã vén tấm mây chắn cho nước từ từ chảy xuống vùng đất Ấn. Dòng nước thiêng liêng đã theo sợi tóc của Thần Siva, một trong 3 vị Thần tối cao, xuôi chảy từ miền Tây Bắc Ấn tới miền Đông thuộc vùng Bengale, để đổ vào biển cả. Đó là dòng sông Gange mà ta thường gọi là sông Hằng. Đối với dân Ấn, nước sông này, không những đã tưới cho trên 10 triệu mẫu ruộng phì nhiêu, đem lại ấm no cho dân lành, còn đem phù sa mầu mỡ bồi đắp cho đồng bằng rộng lớn Bengale và nhất là có phép mầu vô cùng linh nghiệm tại vùng Thánh địa thuộc hai thành phố Benares và Allahabad miền Trung Bắc Ấn, nơi dòng Jumna đổ vào sông Hằng. Hầu như mọi người dân Ấn đều tin tưởng, nếu được tắm nước sông Hằng ngay vùng Thánh Địa sẽ tẩy uế, làm sạch được cả thân thể, lẫn linh hồn. Theo tín ngưỡng, họ tin thuyết “Sống gửi, Chết về” nên xem cái chết là điều rất quan trọng. Theo huyền thoại, vùng trời Benares là khung cửa sổ của các vị Thần trên thượng giới nhìn xuống trần gian. Bất cứ người nào có linh hồn thoát khỏi thể xác đúng nơi vùng đất Thánh sẽ được cứu vớt ngay lên tiên cảnh, nhất là sau khi người đó được nước thiêng sông Hằng gột rửa hết mọi tội lỗi vướng mắc nơi trần thế.
Theo sử liệu Trung Hoa, nhà sư Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh vào đầu thế kỷ thứ 7 sau Tây lịch và ở tại đấy trong vòng 15 năm. Khi về nước, vị sư nổi danh này có tả lại cảnh dân Ấn tắm tại dòng sông Hằng nơi vùng thánh địa. Ngày nào cũng như ngày nào, từ sáng sớm khi mặt trời vừa ló dạng là có cả hàng ngàn người nhảy xuống sông tắm. Tiếp đó bầu không khí tĩnh mịch của màn đêm đã được tiếp nối vang vang bởi những lời cầu nguyện của những tín đồ muốn được tẩy uế và những người bệnh tật hoặc già yếu muốn được giải thoát khỏi cảnh cơ cực hiện tại, để linh hồn thanh thản phiêu diêu trên miền cực lạc, rồi nếu phải luân hồi thì sẽ được tái sinh ở cấp bực cao hơn và hạnh phúc hơn.
Số lượng người và tâm trạng tín đồ đó đã xẩy ra trước đây cả 14 thế kỷ, nhưng có lẽ cả mấy ngàn năm về trước cũng thế và cho đến ngày nay cũng không có gì thay đổi. Có chăng, hiện tại vùng thánh địa được mở rộng hơn, thành phố Benares khang trang chạy dài hai bờ sông kéo dài cả 4 dặm, nhà cửa san sát và nhất là cách khoảng vài ba trăm thước lại có những bến sông gồm nhiều bực, xây bằng đá hay gạch, dẫn xuống tận mặt nước. Những bến này lúc nào cũng nườm nượp người là người. Người ta xuống tắm, hoặc dìm cả người xuống dòng nước, hoặc chỉ đứng ngang tới đầu gối rồi dùng lon tạt nước lên đầu lên cổ. Phụ nữ hầu như toàn thể vẫn mặc nguyên quần áo để xuề xòa ướt đẫm. Nam giới cởi trần, hoặc mặc quần đùi hoặc đóng khố và ít một ai bơi.
Lũ lượt đông nhất là những người đưa đám thân nhân. Họ khiêng cáng người chết đặt nằm xiên dốc trên bực đá, để chờ đưa lên giàn thiêu được thiết lập gần ngay đó. Giàn thiêu được hoạt động liên tục và lộ thiên. Ngọn lửa củi bốc cao lem lém làm cháy đen xác chết, khởi đầu những đường gân người bị nóng nên co rút làm thân người chết động đậy, co quắp, như muốn vùng đứng dậy, trông rất hãi hùng. Sau đó với sức lửa, xác chết thành than, nhưng đồng thời cũng bốc lên không trung một mùi thịt cháy khét lẹt lan rộng khắp toàn vùng rộng lớn. Trong khi đó những thân nhân, những người đang tắm, những người chung quanh hầu như vẫn thản nhiên, họ chấp nhận và còn vui mừng, vì được chết tại nơi này sẽ được lên thiên đường, thỏa mãn ước mong cả người sống lẫn người chết. Tro than xác người chết sẽ được đựng trong một túi vải, trộn cùng với những cánh hoa thơm, rồi đem rải ở ngả ba sông nơi vùng nước xoáy. Ở những bến sông, thỉnh thoảng người ta thấy hàng dãy người gánh những chiếc thúng nhỏ ở hai đầu, mà phía trên đòn gánh lại có một chiếc vòm che bằng dải vải sơn mầu sặc sỡ. Đó là những người từ những vùng thật xa đến, để lấy nước sông Hằng về bán lại cho những người không có phương tiện tự mình đi được. Họ đựng nước sông trong những chiếc lọ nhỏ tí chỉ bằng ngón tay cái và bắt buộc phải theo một qui luật đặc biệt, tức những lọ nước linh thiêng này bao giờ cũng phải được đặt dưới một mái nhà và quang gánh không bao giờ được đặt trực tiếp xuống đất. Mái nhà đây họ đã tượng trưng bằng chiếc vòm vải, còn quang gánh, một khi đặt trên vai là không bao giờ để xuống đất, chỉ được để trên bàn cao, hoặc treo lên cây, cho đến lúc về đến nhà.
Ban ngày bến sông đã nhộn nhịp, ban đêm cũng đông đúc không kém. Mỗi người đi dạo đều đem theo một chiếc đèn bão nho nhỏ. Dưới bóng đêm, bến sông, trên bờ, chỗ nào cũng có những chấm sáng di động, trông xa như một dải ngân hà đang nhấp nháy di động. Đồng thời, những người có thân nhân vừa chết còn làm những chiếc thuyền nhỏ tí, đan bằng lá dừa, rồi thả trôi trên dòng sông, trên có thắp ngọn nến, cùng đặt vài bông hoa. Xuôi dòng nước, những con thuyền lá nhỏ lững lờ trôi, tuy tít tắp xa dần, nhưng ánh nến lung linh vẫn làm nổi bật sự uốn khúc của dòng sông, trông thật đẹp.
* Thánh địa linh hoạt với những tập tục kỳ lạ
Bến nước sát dòng sông, đối với người ngoại quốc thì sự sinh hoạt đã thấy thật kỳ lạ rồi. Nào thây người chết được đặt hàng giờ trên bực đá, nào bao người thản nhiên đi qua để ào ào xuống tắm dưới dòng sông. Họ khoát nước, họ tắm. Người khỏe, người trẻ dìm hết thân mình dưới nước, người già, người bệnh tật run rẩy lội nước tới mắt cá, vốc chút nước xả lên người. Bên trên từng hàng xác được thiêu, rồi đem tro tàn thả xuống dòng sông gần đó. Nước sông như vậy chắc chắn bị ô nhiễm, chứa chất nhiều vi khuẩn. Ấy vậy mà người ta vẫn thản nhiên vốc nước uống và còn nhiều người từ khắp nơi trên toàn lãnh thổ Ấn, đến múc nước thiêng đó để chở về những vùng thật xa xôi, bán lại cho những người đang mong chờ có dịp đi hành hương. Như thế đó, mà từ cả ngàn năm, chưa hề có một trận dịch tể nào khốc liệt. Sư kiện đó làm các nhà bác học thế giới ngạc nhiên, nghi ngờ rằng dòng sông đó có chất miễn nhiễm và dân Ấn càng tin tưởng vào Nữ Thần Ganga và sự che chở của vị Thần Tối Cao Siva.
Vì lý do đó, quanh năm hàng ngàn người từ muôn phương nước Ấn đổ về vùng Thánh địa. Hai thành phố Benares và Allahabad luôn luôn đông đúc như những ngày Lễ Hội thực thụ. Đủ mọi thành phần, tôn giáo, sắc dân, nghề nghiệp đã kéo về đây sinh sống. Cả người Sikh, một sắc dân thiểu số, từng nổi tiếng là hiếu chiến, cũng xếp kiếm cung về đây buôn bán. Họ là những người Ấn vẫn giữ nếp sống cổ xưa nhất và ngày nay là chiếc cầu liên lạc giữa hai đạo Ấn giáo và Hồi giáo. Họ không bao giờ cắt tóc cạo râu, vì cho đó là biểu hiệu tính khí hùng mạnh, cương cường của đàn ông. Tóc quá dài, thì họ quấn lại, rồi bọc ra ngoài bằng chiếc khăn vải trắng. Họ quấn rất khéo léo, có cái khăn dài cả 6, 7 thước, mà luôn luôn bó chặt vào đầu, không bao giờ long. Họ thường đeo một chiếc vòng sắt bên tay phải, để ghi nhớ, phải luôn luôn suy nghĩ trước khi nói, cùng đeo nơi thắt lưng một con dao găm để tự vệ. Trên đường phố thì đầy rẫy những fakir, tức những thày tu khổ hạnh sinh sống bằng việc khất thực, những thầy dạy rắn tỉ tê những bản nhạc rên rỉ bằng chiếc kèn ống dài, để bắt rắn hổ mang uyển chuyển múa may theo tiếng nhạc, rồi trò xiếc đủ loại, trò trình diễn cho con chồn mongoose đánh nhau và giết rắn hổ mang. Đặc biệt những chùa chiền được xây cất thật nhiều và theo đủ lối kiến trúc.
Nhưng có một sự việc đã làm người ngoại quốc ngạc nhiên và phê bình rất nhiều, cho là tục tĩu. Đó là người Ấn thờ dương vật mà gọi là Linga. Nhiều chùa bên dòng sông Hằng có những ngẫu tượng bằng đá, lớn bằng khẩu súng thần công, đẽo khắc theo hình dáng sinh thực khí và người Ấn thờ phụng coi như biểu hiệu của năng lực sinh hóa, sáng tạo của Thần Siva. Những người hiếm hoi muốn cầu tự, thì lấy một quả dừa đã lột vỏ, đập mạnh và tưới vào Linga, xong hứng lấy nước đó mà uống. Ở đền Rameshvaram, nghi lễ còn giản dị hơn, người ta trang hoàng hoa lá cho Linga, rồi lấy nước sông Hằng chùi rửa và bán nước đó cho những người muốn cầu tự. Sở dĩ có tục lệ như vậy, vì người Ấn không thích gì bằng có con. Họ thờ vật tượng trưng cho sự sinh sản, cho con cháu đầy nhà, mà không có một chút tà tâm nào cả, rồi lâu dần quen đi, không hề thấy chướng mắt, mà còn coi là linh thiêng nữa. Chính Thánh Gandhi đã từng tuyên bố “Trước khi tiếp xúc với người ngoại quốc, chính tôi cũng không hề thấy một ý gì khác cả. Chỉ khi tôi được đọc một cuốn sách viết bởi một nhà truyền giáo nước ngoài, tôi mới biết rằng cái Linga của Thần Siva có ý nghĩa tục tĩu”.
* Triết lý sâu xa trong sự tắm rửa của người Ấn
Trừ miền Hy Mã Lạp Sơn có khí hậu lạnh, còn toàn thể lãnh thổ Ấn độ khí hậu rất nóng bức. Đó là một nguyên do khiến cho dân Ấn thích tắm. Từ khi đào được thành phố cổ xưa 5.000 năm tại Mohenjo Daro, người ta đã chú ý tới một nhà tắm lớn đã được xây cất từ thành phố đó. Căn nhà này gồm một hồ tắm dài khoảng 12 thước, rộng 7 thước, sâu 2 thước rưỡi, xây bằng gạch rất đẹp, có bực lên xuống và có chỗ nông sâu dành cho người biết lội và không biết lội. Không những thế, ngoài phòng tắm lớn công cộng, trong một số các tư gia cũng có những phòng tắm riêng. Sự kiện này chứng tỏ, dân Ấn từ ngàn xưa không phải thích tắm cho mát, mà còn ưa sạch sẽ vệ sinh, đồng thời theo một số tài liệu họ còn tin tưởng mạnh mẽ rằng tắm để tẩy uế thân thể cho sạch sẽ và còn gột rửa luôn cả tội lỗi, cho tâm hồn thanh thản. Thực thế, đến ngày nay người ta có thể nói rằng đối với dân Ấn, sự sạch sẽ là một cái gì gần như thiêng liêng, có dính líu về tôn giáo. Có sạch sẽ mới tỏ được lòng kính tín, mộ đạo. Giới Bà La Môn là giới tu sĩ, đứng cấp bực thứ hai sau vua chúa, là một giới luôn luôn làm gương cho toàn dân Ấn. Trong kinh sách đã từng tường thuật, sáng sớm người Bà La Môn phải tắm, trang sức cho đẹp, chà răng, nhỏ thuốc vào mắt, rồi mới cúng vái.
Các sử gia đều công nhận trên khắp thế giới không có một dân tộc nào sạch sẽ như dân Ấn Độ. Chính nhà sư Trung Hoa Huyền Trang đã từng tả lại sự sạch sẽ của người Ấn. Tự họ, họ sạch sẽ, chứ không ai bắt buộc. Trước bữa ăn, họ rửa mặt, rửa tay. Thức ăn thừa không ăn lại. Đồ nào bằng gỗ, bằng đất, chỉ ăn một lần rồi liệng đi. Do vậy, có thể vì bắt chước theo Hồi giáo, họ thích đựng đồ ăn trên lá và bốc ăn bằng tay. Bắt buộc phải dùng những đồ bằng vàng bạc, đồng hay sắt, thì mới giữ lại nhưng chùi rửa sạch bóng. Ăn xong họ xỉa răng, xúc miệng, lau tay, lau mặt sạch sẽ rồi mới tiếp xúc với người ngoài.
Theo sách dạy về phép cư xử, một người Bà la Môn khi tiểu tiện, đại tiện phải theo một nghi thức trang trọng. Làm những việc vệ sinh này, họ chỉ được dùng bàn tay trái và phải rửa bằng nước. Họ chê người Âu Châu không sạch, vì chùi bằng giấy. Tuy nhiên, những người Bà La Môn lại công nhận rằng, không con vật nào linh thiêng bằng con bò cái. Cũng vì quí trọng nó quá, mà người Ấn đã dùng phân bò để đốt thay cho dầu hỏa, để xông bằng khói phân,mỗi khi muốn tẩy uế, cùng để chế tạo một thứ cao họ cho là rất linh nghiệm. Đồng thời họ còn coi nước tiểu của bò cái có tính chất thiêng liêng, tẩy uế được mọi ô uế ở ngoài cũng như ở trong cơ thể. Sự kiện này thì khoa học không thể chấp nhận được. Được cái này mất cái nọ, nhưng theo nhiều người, sự huyền diệu của Ấn Độ không quá hấp dẫn, vì dân Ấn còn quá nhiều người thất học và đất nước họ còn nghèo nàn. Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông
Nguồn: http://www.viendongdaily.com/dong-nuoc-song-hang-huyen-dieu-mAcOrYdO.html