Wednesday, 25/07/2018 - 07:43:24

Giới thiệu Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra)

Bài GESHE WANGDRAK
Dịch giả BÙI THỊ TUYẾT MINH (MINH ARGABRIGHT)

Ngài Geshe Wangdrak (LosangTenzin) là một Tiến Sĩ Phật Học Tây Tạng tại Tăng Viện Namgyal Monastery.

Trình Bày Khái Quát về Giáo Pháp

Phật Pháp có thể chia thành hai thừa, Tiểu Thừa và Đại Thừa. Tiểu Thừa tự nó có thể chia thành thừa Thanh Văn (shravakas) và thừa Duyên Giác (pratyekabuddhas). Thanh Văn Thừa và Duyên Giác Thừa khác biệt với nhau tùy theo khả năng của người tu tức là hành giả cao hay thấp và tùy theo kết quả tu tập mà họ đạt được, nhưng những nét đặc trưng chính của con đường tu tập mà hai thừa theo đuổi thì giống nhau trên căn bản. Những vị có khuynh hướng theo hai con đường Tiểu Thừa này là những người tu để đạt được sự giải thoát cho chính bản thân của họ; những người tu này thì không tu với mục đích để gánh vác tâm nguyện của tha nhân. Bởi vì nguyên nhân chính của sự trói buộc trong vòng luân hồi là sự bám chấp vào tự ngã tức là cái tôi này của mình, nên nguyên nhân chính của sự đạt đến tự do giải thoát là cái trí tuệ thực chứng ý nghĩa của vô ngã tức là cái không có cái tôi này. Như vậy, các bậc đệ tử và các bậc thánh, cũng như các bậc bồ tát, đều thực chứng được sự vô ngã. Các vị thiền quán về điều này cộng với những con đường tu tập khác về hành vi đạo đức tức là thiện hạnh, về sự tập trung vào sự tĩnh tâm tức là thiền chí, vân vân, và vì thế các vị diệt được tất cả các dục vọng, tham, sân, si, vân vân.


Đức Dalai Lama trong ngày thứ ba của các buổi pháp thí mở đầu cho Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) lần thứ 34 ở Bodhgaya, Bihar, Ấn Độ vào ngày 7 tháng Giêng, 2017. (Hình của Tenzin Choejor/OHHDL)

Cho dù các người tu Tiểu thừa không tu với chủ đích thành Phật, nhưng con đường các vị tu thật ra lại là con đường mà rốt ráo là đưa các vị này lên quả vị Phật. Vì thế, không nên hiểu lầm là con đường Tiểu thừa chỉ đơn thuần là một chướng ngại cho việc giác ngộ, bởi vì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và các kinh luận khác dạy rằng đó là các phương pháp tu để đạt đến Phật Quả. Đức Phật ra đời là để cho chúng sinh có cơ duyên đạt được trí huệ giải thoát như chính ngài đã đạt được. Do thế, những thể hiện của Đức Phật về con đường tu tập chỉ là phương tiện nhắm vào việc đưa chúng sinh đến quả vị Phật. Mặc dù pháp Tiểu Thừa không đẫn người ta đi thẳng đến Phật Quả, nhưng trong pháp ấy có dạy rằng các người tu Tiểu thừa trên thực tế thì rốt ráo cũng nhập vào Đại thừa và rồi đạt đến Phật Quả.

Cho dù các người tu Tiểu thừa, cũng giống như các người tu Đại thừa đồng thừa nhận rằng tất cả mọi sự vật tức là vạn pháp thì không có tính riêng tức là không có tự tính, nhưng sự đồng thừa nhận này không có nghĩa là hoàn toàn không có sự khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Giáo lý Đại Thừa không chỉ đơn thuần soi sáng sự vô ngã của vạn pháp, mà còn dạy về những cấp bực của Bồ Tát đạo, dạy về những pháp tu toàn thiện hay pháp tu Ba La Mật, dạy về cách cầu nguyện để đạt đến sự giác ngộ trọn vẹn vì lợi ích của tất cả chúng sinh, dạy về lòng đại từ bi, và vân vân. Giáo Pháp Đại Thừa còn dạy sự hồi hướng công đức để tiến đến sự giác ngộ, dạy hai loại tích lũy của phước và huệ, và dạy điều mà thực sự không thể nghĩ nổi đó là tẩy sạch được tất cả các nhiễm ô.

Vì thế, Tiểu Thừa và Đại Thừa không phân biệt bởi những khác biệt trong quan điểm triết lý, mà được phân biệt theo sự thực hành hay không thực hành toàn bộ các phương tiện thiện xảo. Long Thọ Đại Sĩ (Arya Nagarjuna) và đệ tử của ngài là Tôn Giả Thánh Thiên (Aryadeva) khẳng định như sau: Một người mẹ là cái nhân chung của các con của bà, và những người cha của các con là nhân cho sự khác biệt về dòng dõi của chúng. Cũng giống như người mẹ là nhân chung của các người con, thì cái trí bát nhã là nhân chung của tất cả bốn loại thánh giả: thanh văn, duyên giác, bồ tát, và phật. Nguyên nhân cho sự phân biệt giữa các truyền thừa Tiểu Thừa và Đại Thừa, là các vị này có hay không có những phương pháp để phát Bồ Đề Tâm và những điều như thế. Đại thừa phổ thông, cũng như Tiểu thừa, có thể chia thành hai nhánh thừa: Ba La Mật Thừa hiển giáo và Chân Ngôn Thừa mật giáo. Mục tiêu thông thường của Đại Thừa là tự rèn luyện sáu toàn thiện Ba La Mật bằng sự tu tập các điều toàn thiện này bởi lòng khát vọng đạt đến sự giác ngộ vô song vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Rõ ràng rằng hành giả tu tiến lên Chân Ngôn Thừa cũng bằng pháp tu này bởi vì điều này được dạy trong những mật điển (tantras). Tuy nhiên, hành giả Đại Thừa nào nếu tu theo Ba La Mật Thừa đơn thuần thì chỉ tiếp nhận các phần phổ thông của pháp tu Ba La Mật đó, trái ngược với hành giả Chân Ngôn Thừa thì trau dồi sáu toàn thiện Ba La Mật bằng những pháp tu mật tông đặc biệt không được dạy trong Ba La Mật Thừa.


Cảnh của đám đông tại Shiwatsel Teaching Ground, địa điểm cho Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) lần thứ 33 ở Leh, Ladakh vào tháng Bảy, 2014. (Hình của Tenzin Choejor/OHHDL)

Những thuật ngữ như “(nguyên) Nhân Thừa”, “Ba La Mật Thừa”, và các từ tương tự thì đồng nghĩa với nhau; và các thuật ngữ “Mật Ngôn Thừa”, “Kim Cang Thừa”, “(kết) Quả Thừa”, và “Pháp Môn Thừa” thì đồng nghĩa với nhau. Sự khác biệt giữa nhân thừa và quả thừa là mặc dầu nhân thừa cũng là Đại Thừa nhưng trên tiến trình tu tập, hành giả không quán tưởng tự thân mang những đặc trưng của bốn thuần tịnh. Còn Đại thừa mà nếu qua tiến trình tu tập, hành giả quán tưởng tự thân mang những đặc trưng của bốn thuần tịnh thì được gọi là “Quả Thừa” hay “Mật Ngôn Thừa”. Đây là những gì mà Đại Sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa) đã nói trong Đại Luận Tiệm Tiến Lamrim (Ngag Rim Chenmo): “Còn nói về cỗ xe là vì qua nó mà quả được mong cầu cùng với nhân mong cầu được chuyển tải, nên được gọi là cỗ xe. Quả ở đây chính là bốn thuần tịnh của chỗ ở, thân thể, của cải, và các việc làm, thì cũng là cung điện, sắc thân, tài sản, và các hoạt động của một vị Phật. Một hành giả thiền quán ngay lúc này coi như chính họ có một lâu đài thiêng liêng, một đoàn tùy tùng thiêng liêng, những pháp cụ thiêng liêng, và những hoạt động thiêng liêng của việc thanh tịnh hóa vũ trụ và cư dân của mình, giống như một vị Phật vậy. Vì thế, đó là Quả Thừa bởi vì một hành giả nào tiến bộ bằng thiền quán thì tương ứng với chiếc cỗ xe của kết quả.”

Như thế, toàn bộ Đại Thừa được chia thành Ba La Mật Thừa hiển giáo và Chân Ngôn Thừa mật giáo bởi vì hai thừa này có các phương tiện khác nhau một cách đáng kể trong việc đạt thành một Sắc Thân của Phật nhằm giúp tha nhân hoàn thành mục tiêu. Tổng quát thì, Tiểu Thừa và Đại Thừa không phân biệt vì sự khác biệt về trí huệ tính Không, nhưng được phân biệt vì những khác biệt trong phương pháp tu tập như đã đề cập ở trên. Đặc biệt là, mặc dù Đại Thừa được phân chia thành Ba La Mật Thừa và Chân Ngôn Thừa, sự phân chia này không phải vì có sự khác biệt về trí tuệ thực chứng tính Không của họ; mà hai thừa này được phân chia dựa trên quan điểm về những khác biệt trong phương pháp tu tập. Nét chính của pháp tu trong Đại Thừa là phần giải quyết về sự đạt được thân tứ đại của chư Phật tức là Sắc Thân, và pháp tu để đạt được Sắc Thân trong Chân Ngôn Thừa thật ra chỉ là pháp thiền quán du già thần linh trên chính mình, thiền quán như là mình đang có một đặc tính giống với đặc tính của một Sắc Thân. Pháp tu này thì cao hơn so với pháp tu dùng trong Ba La Mật Thừa.
Về những môn đệ của Chân Ngôn Thừa, thì có bốn loại: thấp, trung bình, cao và xuất sắc. Bốn lớp học mật điển được dạy với bốn hạng đệ tử này trong tâm. Vì các đệ tử đi vào Chân Ngôn Thừa qua bốn lớp học mật điển, nên bốn lớp này được xem như “bốn cánh cửa”. Nếu quý vị thắc mắc bốn cánh cửa này là những gì, thì chúng là : Tantra Hành lễ, Tantra Hành vi, Tantra Du Già, và Tantra Du Già Tối Thượng (Tandra là Mật điển). Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra), như sẽ được diễn tả dưới đây, thuộc lớp học Tantra Du Già Tối Thượng.

Một trình giải về Mật Pháp Thời Luân hay Bánh Xe Thời Gian (Kalachakra)

Toàn bộ ý nghĩa của chủ đề Mật Pháp Thời Luân, còn được gọi là Giáo Pháp Thời Luân hay Bánh Xe Thời Gian, bao gồm trong ba Thời Luân: Thời Luân Ngoài, Thời Luân Trong, và Thời Luân Khác. Thời Luân Ngoài là thế giới bên ngoài của môi trường, và nó còn được gọi là “sự vận hành của những ngày dương lịch và âm lịch ở bên ngoài”. Thời Luân Trong là thân thể con người, đó là một cõi Diêm Phù Đề hay mặt đất. Cũng như thế, những kinh mạch, những nguyên tố bên trong và những chuyển động của khí được coi như Thời Luân Trong. Thời Luân Khác là những pháp quán đỉnh và những pháp tu Shri Kalachakra còn được gọi là Thời Luân Huy Hoàng hay Thời Luân Cát Tường, và những kết quả tu tập. Thời Luân này “khác” hơn hai Thời Luân trước. Vị đạo sư làm chín mùi sự tương tục của mối tương quan giữa tâm lý và vật lý của người đệ tử bằng những pháp quán đỉnh, pháp này ban bố sự gia trì và trao quyền thể nhập thực hành nghi quỹ tandra, và người đệ tử sẽ thiền quán về pháp tu gồm có tiến trình phát khởi và tiến trình hoàn thiện. Bằng cách này hành giả pháp du già sẽ hiện thực hóa được kết quả tu tập là Phật Thân, thể hiện cái hình ảnh thần diệu của tính Không. Đây là Thời Luân Khác.


Đức Dalai Lama đặt các hạt cát nhuộm màu đầu tiên để khởi động lễ kiến trúc Cát Mạn đà la trong Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) lần thứ 32 ở Bodhgaya, Bihar, Ấn Độ vào ngày 1 tháng Giêng, 2012. (Hình của Tenzin Choejor/OHHDL)

Thuyết giảng của Đức Phật về Thời Luân được diễn bày trong quyển Paramadibuddha, Kalachakra, Mật điển Căn Bản:

“Theo hệ Bát Nhã Đáo Bỉ Ngạn thì lúc thuyết Pháp trên đỉnh Núi Linh Thứu, Đức Bổn Sư cũng có truyền dạy hệ thống Chân Ngôn tại Shri Dhanyakataka còn được gọi là đỉnh Quang Vinh Cát Tường. Vị đạo sư nào đã dạy mật điển gì, vào thời điểm nào và ngài cư trú ở đâu? Địa điểm là ở đâu, ai là người thế gian đã theo tháp tùng, và mục tiêu là gì?

“Ngài đã truyền giảng Vô Thượng Đại Thừa, hệ Bát Nhã Đáo Bỉ Ngạn, cho hàng Bồ-tát trên đỉnh Núi Linh Thứu. Lại cũng đồng thời, đấng Như Lai (Tathagata) cùng ngụ với những vị Bồ-tát và những vị khác ở một đại tháp trong mạn đà la (mandala) của một Pháp giới (“mạn đà la” phiên âm từ tiếng Phạn “mandala” là một hình tượng biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ). Ngài ngụ trong ngôi điện kim cương bao trùm khắp vũ trụ, giữa không trung, không làm bằng vật chất và rất rực rỡ, là nguyên một khối và tỏa sáng chói lọi. Ngài đã dạy về mật điển trong vùng quả cầu Pháp giới xinh đẹp này, mật điển cho công đức và tuệ giác của giới con người.”
Mật Tông Căn Bản (Basic Tantra) cũng nói rằng: “Rồi thì hóa thân của Kim Cang Thủ (Vajrapani) là Vua Suchandra từ vương quốc danh tiếng Shambhala, kỳ diệu tiến vào quả cầu Pháp giới rực rỡ huy hoàng này. Đầu tiên, ông đi nhiễu phía bên phải, rồi ông đỉnh lễ đôi bàn chân hoa sen của Đức Bổn Sư với những bông hoa làm bằng châu báu. Chắp tay lại với nhau, Vua Suchandra ngồi trước Đức Phật toàn hảo. Vua Suchandra thỉnh cầu Đức Phật ban truyền, biên soạn, cũng như giảng dạy giáo lý mật tông.

Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) được dạy bởi vị thầy của chúng ta là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài truyền dạy phương pháp tu mà Ngài đã sử dụng để thực chứng được sự giác ngộ toàn hảo tối thượng dưới cội bồ đề tại Bồ đề Đạo tràng ở Ấn Độ, trước lúc rạng đông của một đêm trăng tròn tháng Tư (tháng Năm dương lịch). Ngài đã dạy Ba La Mật Thừa phổ thông cho một năm tròn. Đặc biệt là, tại đỉnh Núi Linh Thứu, Ngài đã chuyển Pháp Luân Bát Nhã, là Pháp Luân chúa tể, tối thượng của hệ Ba-la-mật của Đại Thừa.

Vào ngày trăng tròn tháng Ba (tháng Tư dương lịch), tháng thứ mười hai tính từ ngày Ngài đạt được Phật quả, Đức Phật thuyết giảng Ba La Mật Thừa hiển giáo trên đỉnh Núi Linh Thứu. Cùng lúc ấy, Ngài hóa hiện một thân khác bên trong đại tháp Shri Dhanyakataka gần khu vực Shri Parvata ở miền nam Ấn Độ là nơi mà Ngài đã giảng dạy Mật Thừa.

Ngôi đại tháp này cao sáu dặm từ chân đến đỉnh, và từ bên trong Đức Phật phóng ra hai mạn đà la: ở bên dưới là mạn đà la Pháp Giới Vagishvara, ở bên trên là đại mạn đà la gồm các vì tinh tú lộng lẫy. Đức Phật tọa trên tòa sư tử Kim Cương ở chính giữa đại Mạn đà la của Kim Cương Giới, trú xứ của đại lạc. Ngài an trú trong Thời Luân Định và trong sắc tướng của vị Chúa tể của mạn đà la đó.

Chúng tùy tùng tuyệt hảo trong mạn đà la đó gồm có một hội chúng của Chư Phật, chư Bồ Tát, các vị nữ hung thần, chư thiên, các long thần, và các thiên nữ. Bên ngoài mạn đà la, người thỉnh cầu là hóa thân của Đức Kim Cang Thủ (Vajrapani) là Vua Suchandra của xứ Shambhala. Ông dùng thần thông đến Shri Dhanyakataka (Đỉnh Quang Vinh Cát Tường) từ Shambhala, và ông thỉnh cầu Mật Pháp Thời Luân cho đoàn tùy tùng là thính chúng bao gồm: chín mươi sáu quan trấn thủ danh tiếng của chín mươi sáu đại lãnh địa bên trong Shambhala, cùng với một tập hội vô biên của Bồ-tát, chư thiên, quỷ thần, và những kẻ phước duyên khác.


Địa điểm thuyết pháp cho Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) kỳ thứ 17 ở Gangtok, Sikkim, Ấn Độ vào tháng Tư, 1993 (Hình/OHHDL)

Đức Phật ban bố cho hội chúng Giáo Pháp vi diệu – những pháp quán đỉnh thế gian và xuất thế gian – và tiên đoán rằng họ sẽ đạt được Phật quả, rồi sau đó Ngài truyền dạy hội chúng Nghi Quỹ Rễ Kalachakra còn được gọi là Paramadibuddha (Nghi Quỹ là Nghi Lễ và thường thì có mật chú cho từng nghi thức, Rễ là Tinh Yếu), mười hai nghìn câu kệ Mật Điển Căn Bản Thời Luân. Vua Suchandra ghi xuống thành một bộ và dùng thần thông trở về Shambhala.

Tại Shambhala, Vua Suchandra soạn thảo một bản Luận giải sáu mươi nghìn dòng về Mật Tông Căn Bản. Ông cũng kiến dựng lên một mạn đà la Thời Luân (Kalachakra) làm bằng những chất liệu quý báu. Sau khi bổ nhiệm con trai là Sureshvara làm vua và cũng là giảng sư về mật điển, đức vua băng hà. Nhiều vị vua vĩ đại đã xuất hiện trong triều đại của Shambhala: Kalki Yashas, Kalki Pundarika, và nhiều vị khác nữa. Họ đã làm cho cho Giáo Pháp Thậm Thâm của Thời Luân (Kalachakra) tỏ rạng như mặt trời và mặt trăng.

Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) đã tiếp tục được truyền thừa qua sự kế vị của những quốc vương (“thủ lĩnh”) xứ Shambhala, và rồi sau cùng nó lại được đưa trở lại vào Ấn Độ. Có hai mẫu chuyện nói về sự việc này xảy ra như thế nào, một chuyện do truyền thống Ra kể và một chuyện do truyền thống Dro kể. (Truyền thống Ra và truyền thống Dro sẽ được nói đến bên dưới).

Theo truyền thống Ra, Thời Luân và những luận giải liên hệ đã nổi tiếng khi những Bồ Tát Pháp Thân xuất hiện ở Ấn Độ trong thời gian quốc gia này nằm dưới sự đồng trị của ba vị vua. Lấy Bồ-đề Đạo Tràng làm trung tâm, thì ba vị vua đó là: Dehopala, Tượng Sư (Thầy của loài voi), ở phương Đông; Jauganga, Nhân Sư (Thầy của loài người), ở phương Nam; và Kanauj, Mã Sư (Thầy của loài ngựa), ở phương Tây. Lúc bấy giờ đại học giả Cilu, người quán triệt tất cả những khía cạnh của Phật Pháp, được sinh ra ở Orissa, là một trong năm quốc gia của Đông Ấn Độ. Cilu đã học tất cả những kinh luận Phật Giáo tại Tịnh Xá Ratnagiri, Vikaramashia, và Na Lan Đà. Đặc biệt là, ông đã học tại Tịnh Xá Ratnagiri là nơi không bị tàn phá bởi người Thổ Nhĩ Kỳ.

Cilu nhận thức rằng, trên tổng quát, để đạt đến Phật quả chỉ trong một đời thôi, ông sẽ phải cần đến Chân Ngôn Thừa, và đặc biệt là, ông cần các diễn giải làm sáng tỏ những giáo lý chứa đựng trong những Bồ Tát luận. Biết rằng những sự giáo huấn này hiện còn ở Shambhala, và dựa vào sự hướng dẫn của vị thần bổn tôn của mình, ông gia nhập với những nhà buôn là những kẻ tìm châu báu chốn đại dương. Sau khi thỏa thuận với những nhà buôn này khi đó đang bắt đầu băng qua biển là sáu tháng sau thì gặp nhau, mọi người đi theo lộ trình riêng của mình.

Cilu xúc tiến từng giai trình một và cuối cùng, trong khi đang leo lên một ngọn núi, ông đã gặp một người đàn ông. Người ấy hỏi Cilu, “Ông đi đâu thế?” Cilu trả lời, “Tôi đang đi đến Shambhala để tìm cầu Pháp Thân Bồ Tát.” Người ấy nói, “Đi đến đó thì cực kỳ khó khăn, nhưng nếu ông có thể thông hiểu giáo pháp, thì ông có thể nghe nó ngay tại đây cũng vậy thôi.” Cilu nhận ra rằng người ấy là một hóa thân của Đức Văn Thù Sư Lợi. Ông đỉnh lễ, dâng cúng mạn đà la, và thỉnh cầu giáo pháp. Người đàn ông ấy ban truyền tất cả mọi quán đỉnh, luận giải mật điển, và khẩu truyền cho Cilu. Ngài kéo Cilu lại, đặt một bông hoa lên đầu ông, và ban phước cho ông, và nói, “Hãy thân chứng toàn bộ Pháp Thân Bồ Tát.” Từ đó, giống như nước được rót từ bình này sang bình khác, Cilu thực chứng toàn vẹn Pháp Thân Bồ Tát. Ông sau đó đi ngược đường trở lại và gặp những nhà buôn, rồi ông trở về Đông Ấn Độ.


Các tỳ kheo từ Tu viện Namgyal trình diễn màn Pháp Vũ Nghi Lễ Cúng Dường trong Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) kỳ thứ 34 Kalachakra Empowerment ở Bodhgaya, Ấn Độ vào ngày 10 tháng Giêng, 2017. (Hình của Tenzin Choejor/OHHDL)

Theo truyền thống Dro, Thời Luân được tái giới thiệu vào Ấn Độ bởi đạo sư Thời Luân Cú (Kalachadrapada). Thời đó có một đôi nam nữ thực hành Bất Động Minh Vương Du Già (Yoga of Yamantaka) là nghi lễ cầu sinh con như được dạy trong Mật điển Bất Động Minh Vương, và họ sinh được một đứa con trai. Khi cậu ta lớn lên và biết được rằng ở phương Bắc có những vị Bồ Tát đích thân giảng dạy Phật Pháp nên cậu ta đến mà lắng nghe. Với năng lực tâm linh của mình, vị quốc vương của xứ Shambhala biết được động cơ thuần tịnh và lòng nhiệt tình truy cầu Phật pháp thâm sâu của người trai trẻ đó. Đức Vua biết rằng nếu người trai trẻ cố gắng để đến Shambhala thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng bởi vì những vùng đất hoang vu khô cằn đó phải cần đến bốn tháng để vượt qua. Do đó, Đức Vua đã dùng hóa thân để gặp người trai trẻ đó tại bên rìa của sa mạc.

Đức Vua hỏi chàng trai trẻ, “Con đi đâu vậy, và để làm gì?” khi chàng trai nói với vua những ý định của mình thì Đức Vua nói, “Đường đi ấy rất là khó khăn. Nhưng nếu con có thể thông hiểu những điều pháp này, chẳng lẽ con không thể nghe pháp ngay tại đây hay sao?” Chàng trai trẻ nhận ra đây là hóa thân của Đức Vua và chàng thỉnh cầu ngài ban cho giáo pháp. Ngay tại đấy, Đức Vua truyền quán đỉnh cho chàng trai, và trong bốn tháng ngài đã dạy cho chàng trai trẻ tất cả những mật điển tối thượng, đặc biệt là ba luận giải Pháp Thân Bồ Tát. Giống như một bình chứa đã được rót đầy đến vành, chàng trai trẻ thực chứng và thuộc lòng tất cả các mật điển. Khi chàng trai trẻ trở về Ấn Độ, cậu ta trở nên nổi tiếng như là một hóa thân của Đức Văn Thù Sư Lợi và tên của chàng trai trẻ đó là “Kalachakrapada” (Thời Luân Cú).

Truyền thống Ra và Dro nói rằng Giáo Pháp Thời Luân (Kalachakra) được truyền bá vào Ấn Độ bởi Cilu và Kalachakrapada. Từ đó Giáo Pháp Thời Luân đã tiếp tục được học hỏi và thực hành ở Ấn Độ, và cuối cùng đã được đưa vào Tây Tạng. Một lần nữa, truyền thống Ra và Dro là hai dòng truyền thừa chính mà qua đó mới có pháp tu này.

Truyền thống Dro đã bắt đầu từ sự thăm viếng Tây tạng của Hiền giả Somanatha người Kashmiri. Somanatha đầu tiên đến Tây Tạng tại Kharag và đã ở lại với bộ tộc Ryo. Với một khoản nhuận bút là một trăm miếng vàng Somanatha đã dịch sang Tạng ngữ một nửa bộ đại luận Thời Luân, Vimalaprabha, nhưng trong thời gian ấy ông trở nên bất mãn và ngưng không dịch nữa. Ông cầm vàng và bản thảo dịch đó đi sang Phan Yul drub. Ở đấy Chung Wa người của bộ tộc Zhang đã nhận Somanatha làm đạo sư, và Shayrabdrak của bộ tộc Dro đóng vai dịch giả. Somanatha và Shayrabdrak đã dịch toàn bộ Đại Luận Giải Thời Luân (Vimalaprabha).

Truyền thống Dro tiếp tục truyền đến Lạt Ma ChoKu Ozer. Vị lạt ma này tinh thông tất cả những giáo pháp của bộ tộc Dro, bao gồm Giáo Pháp Thời Luân. Đệ tử của ngài là Lạt Ma Galo, người quán triệt cả hai truyền thống Dro và Ra và truyền cả hai lại thành một dòng truyền thừa hợp nhất.

Truyền thống Ra đã bắt đầu từ Chorab của bộ tộc Ra, người cháu trai của dịch giả danh tiếng Ra Dorjedrak được ra đời ở Nyen Ma Mang Yul. Ra Chorab nhớ và thông hiểu tất cả những giáo lý của bộ tộc Ra. Rồi thì ông ước muốn được học Giáo Pháp Thời Luân (Kalachakra), nên ông đã đi đến trung bộ Nepal là nơi ông liên tục hầu hạ Hiền giả Samantashri trong năm năm, mười tháng, và năm ngày. Samantashri đã diễn giải cho ông tất cả những kinh điển Thời Luân và ban cho Chorab những quán đỉnh cùng khẩu truyền. Rồi thì Chorab cung thỉnh Hiền giả Samantashri đến Tây Tạng, nơi mà họ thận trọng dịch những mật điển Thời Luân và những luận giải về những mật điển này, cùng với những văn hiện phụ lục.


Kiến trúc đã hoàn tất của cát mạn đà la Thời Luân được tạo dựng trong Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) lần thứ 33 ở Leh, Ladakh, J&K, Ấn Độ vào tháng Bảy, 2014. (Hình của Tenzin Choejor/OHHDL)

Truyền thống Ra tiếp tục truyền qua con trai và cháu của Ra Chorab, và cuối cùng thì truyền đến Lạt Ma Galo, như đã đề cập trước. Lạt Ma Galo truyền lại cả hai truyền thống Dro và Ra, và dòng truyền thừa của ngài tiếp tục truyền qua những đạo sư như Buton Rinchendrub và Tsongkhapa (Tông Khách Ba). Việc học hỏi và thực hành Giáo Pháp Thời Luân dựa trên truyền thống Ra và Dro vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Căn bản đầu tiên trong việc thực hành Mật Pháp Thời Luân, cũng như tất cả các hệ thống mật tông Phật giáo, là sự tiếp nhận những pháp quán đỉnh đúng đắn. Để cho những pháp quán đỉnh được trao truyền và tiếp nhận một cách đúng đắn, điều cần thiết cho cả đạo sư và đệ tử là phải có những trình độ nhất định. Những trình độ của vị đạo sư Chân Ngôn Thừa (Mantrayana) được diễn tả bởi Losang Chokyi Gyaltsen như sau: “Vị ấy phải làm chủ được thân, miệng, và ý của mình. Vị ấy phải thật thông tuệ, nhẫn nại, và không lừa dối. Vị ấy phải biết những thần chú và mật chú, thông hiểu thực tại, và đủ khả năng trong việc trước tác cũng như diễn giải kinh điển.”
Chúng ta rất may mắn là vẫn có thể cầu tìm được những đạo sư như vậy ngay cả trong thời buổi này.
Còn người đệ tử thì cần có kinh nghiệm về ba khía cạnh chính yếu của con đường Đại Thừa: thoát luân hồi, bồ đề tâm, và thông hiểu tính Không. Nếu người đệ tử chưa thật sự có kinh nghiệm về những điều này, thì người đó ít nhất cũng cần phải có sự thường xuyên quán chiếu và sùng kính đối với những điều này.

Điều quan trọng nhất trong ba khía cạnh này là bồ đề tâm, là động lực tiên quyết để nhận quán đỉnh. Di Lặc Đại Sĩ (Maitreya) định nghĩa bồ đề tâm trong Hiện Quán Trang Nghi (Abhisamayalankara) rằng: “Bồ Đề Tâm là khát vọng đạt được giác ngộ viên mãn, chân thật vì lợi lạc của kẻ khác.” Khi được áp dụng vào trường hợp đặc biệt của tiếp nhận những pháp quán đỉnh, người đệ tử cần phát khởi bồ-đề tâm theo cung cách sau đây: “Vì lợi ích của tất cả chúng sinh đệ tử phải đạt được trạng thái Thời Luân Huy Hoàng (Shri Kalachakra). Rồi đệ tử sẽ có khả năng an định tất cả chúng sinh khác vào trạng thái Thời Luân Huy Hoàng giống như mình.” Một đệ tử nên nhận quán đỉnh với một động lực như vậy.

Cái mục tiêu chung của những pháp quán đỉnh mật tông là qua những lễ quán đỉnh đó vị đạo sư giúp làm chín mùi sự tương tục của mối tương tác giữa tâm lý và vật lý của người đệ tử. Ở đây, “làm chín mùi” có nghĩa là cho phép người đệ tử có quyền thực hành pháp du già cho tiến trình phát khởi và tiến trình hoàn thiện. Đặc biệt là, những lễ quán đỉnh Thời Luân cho phép người đệ tử được quyền thực hành du già Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra), và, rốt ráo, đạt được trạng thái Thời Luân Shri (Thời Luân Huy Hoàng).

Có mười một pháp quán đỉnh Thời Luân: bảy quán đỉnh cho “nhập môn như một đứa trẻ”, ba quán đỉnh “tán dương”, và một quán đỉnh “suy tôn tột bậc.” Những đệ tử nào nhất thời chỉ biết nhắm đến việc có được những thần lực ở thế gian (những năng lực về pháp thuật hay huyền thuật) thì chỉ được ban truyền bảy pháp quán đỉnh cấp dưới. Những ai mà chủ yếu là chú tâm vào sự thành tựu Phật Quả siêu việt thì được ban truyền cả mười một pháp quán đỉnh.
[...]


Các chú tiểu quấn dải băng bịt mắt trong Đại lễ Truyền Thừa Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra) thứ 34 ở Bodhgaya, Bihar, Ấn Độ vào tháng Giêng, 2017. (Hình của Tenzin Choejor/OHHDL)


Pháp quán đỉnh suy tôn tột bậc còn được gọi là “pháp quán đỉnh thứ tư” hay “pháp quán đỉnh ngôn tự”. Pháp quán đỉnh đại trí tuệ-chứng ngộ nói ở trên làm tăng năng lực cho người đệ tử để thành tựu Bồ-tát địa thứ mười một. Rồi với tính cách tượng trưng, vị đạo sư biểu thị Thân Chứng Ngộ, đó là sự hợp nhất của đại lạc bất biến tối thượng và tính Không hoàn hảo về mọi khía cạnh. Trong lúc phát biểu: “Đây là nó”, vị đạo sư ban truyền pháp quán đỉnh thứ tư cho người đệ tử. Pháp quán đỉnh này cho phép người đệ tử thực hành việc tu tập đạt đến Giác Ngộ viên mãn trong sắc tướng của Thời Luân Huy Hoàng (Shri Kalachakra).
(Trích từ Tinh Tấn Magazine số tháng Tám, 2018)

Lễ kiến tạo Mạn Đà La Cát Thời Luân – Kalachakra và Pháp Vũ được tổ chức lần đầu tiên tại Little Saigon từ thứ Tư, 29 tháng 8, đến Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018, tại Hội Trường Báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 92683. Tham dự và quán chiếu Mạn Đà La là tạo cơ duyên cho sự giác ngộ. Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc Kevin (657) 257-8430, hoặc 2018chalachakravn@gmail.com.

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp