Wednesday, 29/05/2019 - 05:15:21

Kỷ niệm về thầy: Niệm Phật và ăn chay


Hòa Thượng Thích Thiền Tâm (1925-1992) trong hình chụp không rõ năm. Thầy sinh tại làng Bình Xuân, quận Hòa Đồng, tỉnh Gò Công, Tiền Giang, xuất gia từ năm 7 tuổi. Năm 1964, Thầy là Trưởng Giáo kiêm Giám Đốc Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Giảng Sư Phân Khoa Phật Học Viện Đại Học Vạn Hạnh tại Sài Gòn. Ngài đã ẩn tu ba thời kỳ trong nhiều năm, dịch sách Phật Giáo từ tiếng Hán và cũng viết nhiều sách, xiển dương pháp môn Tinh Độ, dù thông thạo Thiền Tông và Mật Tông.


Bài NHẤT TÂM

Tôi còn nhớ lần đầu tiên bái kiến Thầy Thích Thiền Tâm, tôi hí hửng pha lẫn chút kiêu hãnh rằng, “Thưa Thầy, con ăn chay trường đã bốn năm rồi ạ!”

Và Thầy đáp một câu khiến tôi chưng hửng, “Ăn chay đâu phải là điều kiện tiên quyết cho việc tu hành! Vả lại, ăn uống theo phương thức của đa số quần chúng hiện nay, thì cũng chưa phải gọi là ăn chay đúng nghĩa!”

Vì là buổi sơ giao, tôi chưa hiểu được Thầy là ai, và trước mặt mình là một nhân vật như thế nào, nên tôi không tránh khỏi đôi chút tự ái. Tôi đỏ mặt, cãi, “Con cũng sử dụng thực đơn giống như quý thầy ở chùa, tại sao lại chẳng phải là ăn chay?”

Thầy vẫn ôn tồn, “Được rồi. Con thử định nghĩa thế nào là Chay? Và thế nào là ăn chay đúng theo chánh pháp? Và ăn chay có liên hệ gì đến sự phát triển tâm linh của chúng ta?”
Đương nhiên là... tôi ngậm miệng tắc tị, vì chẳng biết trả lời “oong đơ” như thế nào!
May mắn thay cho tôi, vừa khi ấy, một vị thị giả của Thầy vào báo rằng, có một phái đoàn Phật tử từ Saigon lên viếng Hương Nghiêm tịnh viện, tôi bèn vội vàng rút lui, nhưng Thầy quay lại bảo nhỏ, “Trưa mai, Thầy cho phép con thọ trai cùng với chư Tăng, con sẽ hiểu rõ thế nào là ăn chay đúng phép.”

Thế là trưa hôm sau, tôi vận áo tràng đàng hoàng và được Thầy dẫn lên chánh điện, bảo tôi ngồi vào dãy cuối cùng. Lần đầu tiên thọ thực với chư Tăng trong khung cảnh tôn nghiêm của một tu viện khiến tôi không khỏi hồi hộp. Nghi thức thọ thực của chư Tăng cũng tương tự như nghi thức Bát Quan Trai dành cho cư sĩ.

Chiều hôm ấy, tôi gặp Thầy tại tịnh thất. Thầy hỏi, “Con đã biết ăn chay là thế nào chưa?”
Tôi vẫn còn lúng túng. “Thưa Thầy, tuy đã được tham dự buổi lễ Ngọ Thực vừa qua, nhưng… con vẫn chưa hiểu nhiều về ý nghĩa của từng chi tiết buổi lễ. Thầy có thể giải thích cho con được thông suốt chăng?”

Sau đó, tôi được Thầy chỉ dạy và giảng giải từng chi tiết và ý nghĩa của buổi thọ trai, như là một sinh hoạt chính yếu mà bất cứ người xuất gia nào cũng phải thực hiện hằng ngày, không thể bỏ qua. Buổi đàm đạo hôm ấy Thầy có vẻ thích thú vì gặp người đệ tử thiết tha học hỏi, nên câu chuyện rất hào hứng. Nói chung, tôi được Thầy dạy rất nhiều, và giảng rất tỉ mỉ.
Nhiều năm tháng đã trôi qua, bây giờ có lẽ đầu óc khá lú lẫn nên không còn nhớ được bao nhiêu.

Đại khái, Thầy dạy rằng: một bữa ăn gọi là chay đúng nghĩa theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa thì phải đặt trọng tâm vào ba điểm chính yếu :
1. Nghi thức thọ trai chính là công khóa tu hành của người Phật tử, là một bộ phận không thể thiếu được trong sinh họat tâm linh, cho nên người hiểu đạo thì nên xem bữa ăn là cơ hội để thăng tiến tâm linh cho bản thân và gieo duyên lành cho những người xung quanh, kể cả những kẻ có mặt hoặc khuất mặt.
Trước khi dùng bữa, quan trọng nhất là nâng bát cơm lên ngang trán để cúng dường hết thảy chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị tổ sư, thánh hiền tăng.

2. Xuất sanh: Bố thí cho tất cả chúng sanh hữu hình cũng như vô hình. Đặc biệt là loài kim súy điểu, và tiếp theo là phải sớt bát để trừ diệt tham dục.

3. Thực hiện tam đề, ngũ quán.
Tam đề là phát Bồ Đề nguyện trước khi ăn ba miếng cơm đầu tiên, bằng cách niệm thầm.
Miếng thứ nhất: nguyện tu nhất thiết thiện.
Miếng thứ hai: nguyện đoạn nhất thiết ác.
Miếng thứ ba: nguyện cứu độ nhất thiết chúng sanh.
Ngũ quán là: trong khi ăn, bắt buộc vừa ăn vừa quán tưởng 5 pháp quán này :
- thứ nhất khi ăn phải tri ân tất cả chúng sanh trong cuộc sống này, và phải biết miếng ăn này từ đâu lại.
- thứ hai tự xét đức hạnh của mình có xứng đáng với sự cúng dường này chăng?
- thứ ba là ngăn trừ lầm lỗi và chặn đứng nguồn gốc của lòng tham muốn.
- thứ tư là phải quán tưởng rằng: bữa ăn này chỉ là thuốc thang để chữa lành bệnh gầy mòn của cơ thể (ăn để sống mà thực hiện tâm linh).
- vì thành tựu đạo nghiệp nên mới thọ dụng bữa ăn này.

Tóm lại, người ăn chay chân chánh thì luôn luôn thực hiện “tam đề ngũ quán” trong bữa cơm. Nghĩa là khi dùng bữa, cũng chính là lúc quan trọng nhất, cần thiết nhất để hành trì, tu tập, chứ không phải để thỏa mãn sự đói khát và tham dục của mình. Đương nhiên, không bao giờ nói chuyện lung tung, hoặc giỡn cợt, hoặc cười lớn tiếng, la hét, làm mất không khí trang trọng, kính tín của buổi lễ.

Cuối cùng, là những động tác thoạt xem ra có vẻ nhỏ nhặt, nhưng đạo Phật vẫn lồng vào trong đó những nghi thức thuần túy tu hành. Như: xỉa răng, uống nước, lau tay rửa miệng, thảy thảy đều được thực hiện kèm theo những lời thệ nguyện vĩ đại, mà mục đích căn bản là: mở rộng lòng thương yêu rộng lớn không phân biệt đến tất cả muôn loài, nhiếp phục tâm ý, tưởng nhớ đến Phật, Pháp Tăng cùng tỏ lòng tri ân đến tất cả vạn vật.

Bữa thọ trai được kết thúc bằng lời chú nguyện như sau:
- Tấm thân này được khoác một bộ áo quần tươm tất cho nên tôi thường nghĩ đến công lao của người thợ dệt.
- Hàng ngày dùng ba bữa cơm, mỗi mỗi đều ghi nhớ cái gian khổ của người nông phu.
- Nguyện cầu tất cả tu sĩ lẫn cư sĩ đều lấy phước huệ làm cơ sở cho việc hành trì, và sau khi lâm chung được A Di Đà trực tiếp công bố quyết định thành Phật (thọ ký).
- Lại cầu nguyện rằng, mọi sinh linh cõi âm được siêu thăng, cõi dương được thái bình, an lạc, cùng tất cả chúng sanh đều sớm thành tựu trí giác Vô Thượng.

Như vậy ta thấy rằng một bữa ăn chay đúng nghĩa thì phải được tiến hành bằng những cung cách, thái độ và tâm ý như vậy. Và thực hiện đúng như thế mới gọi là “người ăn chay.”
Nếu chúng ta chỉ chuyên dùng rau cỏ và ngũ cốc trong bữa ăn, và khi ăn chúng ta không thực tập một công phu tu tập nào cả, không kèm theo một hành vi tôn giáo nào cả, thì chúng ta được gọi là người ăn thực vật, chứ chưa phải là người ăn chay.
Mặc dù ăn thực vật thì cũng chiêu cảm những quả báo hiền thiện, như: được ít bệnh, sống lâu, và ít gây nghiệp sát cho nên kiếp sau sẽ hưởng những quả báo dễ chịu, tốt đẹp (tương đối). Nhưng, ăn thực vật ròng như vậy thì không liên hệ gì đến tâm linh, tôn giáo cả!
Đó là nghi thức tiêu biểu, là bữa ăn điển hình của người xuất gia theo quan điểm tổng quát của Đại Thừa. Còn trong đời sống bình thường, mọi người dẫu là cư sĩ hoặc tu sĩ đều nên tùy thuộc vào pháp môn của mình, mà thực hiện bữa ăn chay sao cho thích hợp.

(Trích từ bài viết của Nhất Tâm Nguyễn Xuân Chiến được đăng lại trên nhiều trang mạng Phật Giáo)

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp