Định nghĩa từ Văn Hóa là việc không dễ. Định nghĩa Văn Hóa sao cho đầy đủ lại càng không phải “chuyện nhỏ”. Hơn nữa, thường thì chương trình “định nghĩa” chưa kịp bế mạc thì đã gây nên cảnh “trời đất nổi con gió bụi”, rồi từ bất bình chuyển đài sang cãi lộn; lắm khi từ võ miệng, khẩu quyền đổi hệ thành túc-thủ-đạo, chưởng lực lúc nào không hay!
Tôi đã quá biết vậy, lại mình mẩy đầy kinh nghiệm xương máu, nhưng bản tính tôi hay nghĩ ngợi vớ va vớ vẩn, lại thường ngứa mồm miệng nên ưa xía vào chuyện thiên hạ. Nhiều lần trong những cuộc “trà dư tửu hậu”, tôi đã… “được” bá quan văn võ dành nhau mà “dạy cho một bài học”, nhưng rồi tôi vẫn chứng nào tật nấy để rồi lại mò về năn nỉ vợ… băng bó cho. May mà vợ tôi thuộc loại hiền thục, chỉ đòi tốc váy chạy qua “cho bọn họ một trận” hay “phải cho chúng nó biết tay bà”, nhưng chỉ cần nghe tôi báo cáo là “tụi nớ… sợ, rút dù hết rồi!”, vợ tôi lại ngoan ngoãn… cười đắc thắng.
Ấy như các bậc thánh hiền vốn ngập tràn chất khôn ngoan trong đầu óc, cũng đã dạy: Trước khi phát ngôn, phải uốn lưỡi ít nhất 7 lần! - Ý của các ngài muốn khuyên bảo là phải tiết kiệm lời nói hay đúng hơn nên sử dụng thời gian “uốn lưỡi” đó mà suy nghĩ nên hay không nên nói, và nếu phải nói thì thứ nhất phải “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, hai là “người khôn nói mánh, đứa dại đánh đòn”, ba là “nói hay hơn hay nói”, bốn là “nói như dao rựa chém đá”, năm là “nói ngọt lọt đến xương”, sáu là “nói con kiến trong lỗ cũng bò ra” hay “nói phải củ cải cũng nghe”, bẩy là “nói như đinh đóng cột”, tám là “nói có sách, mách có chứng”, chín là “nói đi cũng phải, nói lại cũng dễ nghe” và thứ mười là “lời nói (phải) đi đôi với việc làm” hay “nói năng quân tử”, chứ đừng “cư xử tiểu nhân”…
Vậy mà tôi vẫn liên tục “mất khôn dồn ra… dại”! Ấy đấy, nhân đọc được bản tin viết trên nhật báo Viễn Đông ngày 31 tháng 8, về “Khu phố ‘văn hóa’, trộm cướp nhan nhản”, rồi lại được đọc lời đề nghị của ông Văn Quang gửi từ Sài Gòn ra: “Cần phải học văn hóa xấu hổ” cũng đăng trên Viễn Đông, ngày 19 tháng 9, bỗng miệng tôi lại mọc… da non. Tôi lại muốn nhân cơ hội mà “nói hươu nói vượn”, “nói nhăng nói cuội” dù đôi chỗ cũng “nói thánh nói tướng” về Văn Hóa nên có thể gây “đất bằng nổi sóng” đối với một số quí vị độc giả thân mến bởi chẳng qua cũng chỉ vì “nói thật mất lòng” và vì “nói gần nói xa, chẳng qua nói thật”.
Vâng, như trên đã xác quyết, việc định nghĩa Văn Hóa dẫu gây “trầy da tróc vẩy” cũng muôn đời không được trọn vẹn. Từ xưa tới nay, không thiếu những bậc trí thức học cao hiểu rộng ở khắp nơi trên thế giới đã vẫn tiếp tục thi đua tìm cho bằng được đầy đủ ý nghĩa của từ Văn Hóa mà vẫn chưa đạt tới đích, vẫn chưa tự làm thỏa mãn mình được cũng như chưa thể hoàn tất được công cuộc “gãi đúng chỗ ngứa” cho nhân loại. Mỗi tác giả nhìn Văn Hóa từ một khía cạnh khác nhau, lôi được từ Văn Hóa ra những tài sản, những kho tàng dị biệt. Tất cả đều quí!
Riêng kẻ hèn này đã học lóm được định nghĩa đơn giản sau đây bèn cất giữ làm vốn riêng để từ đó thỉnh thoảng mang áp dụng vào thực tế: Văn Hóa = “Văn” là vẻ đẹp. “Hóa” là biến chuyển, biến hóa, tiến hóa. Vậy nói chung, Văn Hóa là sự/việc biến chuyển, thay đổi để tiến tới vẻ đẹp. Những vẻ đẹp này hiện hữu ở trong mọi phạm vi, mọi sinh hoạt của cuộc sống con người, đương nhiên trong nghệ thuật, văn học… mà cả trong những lãnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự… Các bộ lạc, các dân tộc từ trình độ sơ khai đã dần dần tiến hóa để tiến lên trình độ cao hơn, tức là càng thâu thập hay tạo nên được nhiều vẻ đẹp, tức là leo lên được nhiều bậc thang Văn Hóa. Nói chung thì vậy, nhưng giữa các dân tộc có những “vẻ đẹp” mà phần đông không giống nhau đồng thời cũng không nhất thiết được các dân tộc khác đồng thuận hay ưa thích. Nhưng dứt khoát, “chửi tục”, “trộm cướp”, “mại dâm”, “tham nhũng”, “ma túy”, “bẩn thỉu”, “mất vệ sinh”… thì bất cứ ở đâu, vào thời nào cũng không thể được coi là Văn Hóa.
Vì đặc tính tiến hóa mà văn hóa không bao giờ “dậm chân tại chỗ”, trái lại luôn luôn sinh động và mang tiềm tàng năng lực biển chuyển, thay đổi. Nhìn lại quá khứ của dân tộc Việt Nam, ắt thấy ngay bằng chứng: Thời xưa “trai năm thê, bẩy thiếp”, nay chỉ cần thêm một “thê” nữa thôi cũng đủ pháp luật “hỏi thăm sức khỏe” và bị dư luận đàm tiếu mệt… không nghỉ. Cũng thuở xưa, phụ nữ thì “tam tòng tứ đức”, nay “tứ đức” thì vẫn còn giá trị, trong khi đạo “tam tòng” thì đã lỗi thời từ khuya rồi!
Theo nhận xét của kẻ hèn này, nhiều người vẫn “bé cái lầm” giữa văn hóa với những vật biểu tượng văn hóa. Thí dụ cho vui nhé, nhân dịp Tết, bà con mình vẫn gói bánh chưng, bánh dày rồi chỉ vào chúng mà “nói như đóng đinh vào cột” rằng: “Đây là văn hóa Việt Nam, ta phải duy trì!” - Nhưng xin thưa, không phải ạ, hai loại bánh này chỉ là biểu tượng của văn hóa của dân tộc mình, bởi “gạo nếp được làm thành bánh vuông tượng hình Đất… và giã xôi làm bánh tròn để tượng hình Trời - còn lá xanh bọc ở bên ngoài và nhân ở trong bánh là tượng hình Cha Mẹ yêu thương đùm bọc con cái”.
Nhiều người còn khoe với người ngoại quốc Áo Dài, Gỏi Cuốn… là văn hóa Việt Nam, trong khi vật dụng này, thực phẩm này vốn xưa nay vẫn chỉ là biểu tượng văn hóa dân tộc thôi. Xin hãy nhớ đến những ý nghĩa nằm trong lối cắt, kiểu may… của Áo Dài! Không lý văn hóa Việt Nam bị thay đổi nhanh như chớp từ tay nhà thiết kế này sang nhà vẽ kiểu áo khác sao? Hãy quan sát các vật dụng như các loại rau và nhân được cuộn lại trong bánh tráng để hiểu ý nghĩa của cái Gỏi Cuốn ấy! Không lý văn hóa Việt Nam thay đổi “như chong chóng” tùy theo khẩu vị ông thích cuốn với thịt, bà lại ưa tôm, con Hến không chịu nổi rau dấp, thằng Cu lại nhất quyết cho thêm cà-rốt vào… sao?
Cái Áo Dài là biểu tượng của sự đoan trang, hiền dịu của tâm hồn hài hòa với sự uyển chuyển, mềm mại của thân thể… của người nữ Việt Nam. Kiểu cắt, màu sắc, kích thước… có thể thay đổi, nhưng các ý nghĩa cao quí vẫn trường tồn, bởi “sự đoan trang, hiều dịu, sự uyển huyển, mềm mại” là những vẻ đẹp thiết nghĩ có giá trị vượt thời gian và không gian… của người nữ Việt Nam.
Cũng vậy, ở cái Gỏi Cuốn: Bánh tráng được làm bằng gạo, sản phẩm nói lên đặc tính nguồn gốc của người Việt Nam, một dân tộc vốn từ trên “bốn ngàn năm văn hiến” vẫn lấy nông nghiệp làm căn bản. Các thứ rau thơm cuộn trong nhân cái Gỏi Cuốn đều mang tính hài hòa Âm, Dương không những của Trời Đất mà còn là một là phương thuốc trong nghệ thuật ăn uống của người Việt, nhờ có “âm dương điều hòa” mà sự tiêu hóa dễ dàng. Thí dụ, rau răm vẫn được đánh giá là “nóng”; rau dấp được cho điểm cao là “mát”. Chất “nóng” là Dương; “mát” là Âm. Bảo đảm rằng, trong tất cả món ăn “quốc hồn quốc túy”, tổ tiên chúng ta luôn luôn áp dụng đạo Âm-Dương này. Kể cả trong nước chấm: Tương, mắm… hoặc đã được hạ thổ hay được để lâu ở ngoài trời hầu hấp thụ được tính Âm. Rồi khi thưởng thức, ta dầm vào tí ớt, tí xả hay gừng - những chất “cay” này mang tính Dương - khác chi ta đã vô tình tuân thủ đạo Âm Dương rồi đó. Nhưng nhớ nhé, “lạy ông đi qua, van bà đi lại”, đừng chỉ vào chén tương ớt đó, bát nước mắm ớt đó mà phán… đây là văn hóa Việt Nam!
Kể từ sau Tháng Tư Đen 1975, người cộng sản Việt Nam - tên gọi thông dụng là Việt Cộng - đã lạm dụng “vượt chỉ tiêu” từ Văn Hóa. Thấy một thanh niên Việt Nam trong miền Nam để mái tóc dài hoặc mặc chiếc áo sặc sỡ, cán bộ liền bắt bỏ bóp về tội “lối sống thiếu văn hóa”. Gặp một thiếu nữ trong miền Nam trang điểm phấn son, diện chiếc váy đầm cao tới đầu gối, cán bộ cũng lôi vào trụ sở về tội “lối sống thiếu văn hóa”… Trong khi đó từ bộ đội tới công nhân viên nhà nước… cứ “vô tư” mặc quần đùi, khoác áo mai-ô-ba-mảnh ở cả cơ quan, thi đua ngồi “kiểu nước lụt” trên sofa, nấu nướng và nuôi gà, nuôi lợn dưới gầm giường ở tư gia đã đành mà cả ở văn phòng, ở lầu trệt lẫn trên sân thượng…. Và họ đã hãnh diện vỗ ngực khoe đó là “lối sống có văn hóa”! Câu nói “xã hội chủ nghĩa đã lôi xã hội miền Nam nói riêng, cả nước Việt Nam nói chung trở lại thời đồ đá”, thiết tưởng cũng không quá đáng lắm đâu!
Ngôn ngữ dĩ nhiên cũng là một phần của Văn Hóa một dân tộc. Một tác giả Tây Phương rất chí lý khi nhận định: Cứ xét cách ăn nói của một dân tộc, ắt biết ngay trình độ văn hóa của dân tộc đó. Thì tổ tiên Việt Nam cũng xác nhận: “Người thanh tiếng nói cũng thanh” hay: “Người khôn thử tiếng, người ngoan thử lời”. Điều này có nghĩa là qua lời ăn, tiếng nói, ta có thể biết được người lịch sự, người khôn ngoan.
Vậy mà người của đảng Cộng Sản Việt Nam và tuyệt đại đa phần đồng bào miền Bắc Việt Nam lại luôn miệng chửi thề, nói tục. Những câu chửi thề này, những lời tục tĩu này đã được “cập nhật hóa” vào ngôn ngữ thông dụng thường ngày của dân gian đến độ người ta không còn ý thức hay nhận ra “xuất xứ và nội dung” của chúng. Từ “đéo” chẳng hạn đã “bất diệt” trên đầu môi chóp lưỡi của mọi tầng lớp xã hội, từ “hạ tầng cơ sở” lên tới “thượng tầng kiến trúc”. Chẳng có gì đáng còn ngạc nhiên khi nghe một mỹ nhân bận bộ y phục “xịn hết ý”, xách một cái ví “kiểu” thốt ra câu “đéo vào” để trả lời người bán hàng mời nàng mua trái cây.
Mạn phép kể lại ở đây một câu chuyện điển hình vốn từ lâu đã di chuyển trên các mạng vi tính - câu chuyện do một cựu giáo chức miền Nam kể lại chuyến ra Hà Nội, thủ đô văn vật, lần đầu tiên sau “cách mạng” để thăm một đồng nghiệp mà hai người đã chia tay từ sau hiệp định Genève:
“Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngõ, khi tìm nhà một người quen đang làm trưởng một khu phố văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ đang nô đùa ngoài đầu ngõ, tôi hỏi: ‘Này các cháu, có biết nhà ông trưởng khu văn hóa ở đâu không?’
Một đứa bé trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt ranh mãnh, đáp gọn lỏn: ‘Biết, nhưng đéo chỉ!’
Tôi khẽ lắc đầu đi sâu vào trong ngõ, gặp một thanh niên, tôi hỏi: ‘Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu văn hóa ở chỗ nào không, anh?’
Gã trẻ tuổi này chẳng thèm ngó tôi, trả lời cộc lốc: ‘Đéo biết!’
Mãi sau khi gặp được người bạn xưa, tôi đem câu chuyện kể hết cho ông ta nghe với lời than vãn: ‘Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng ăn nói với khách lạ thô bỉ đến thế, hả anh?’
Chẳng cần suy nghĩ, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay: ‘Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó đéo nghe!’
Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi - cũng là giáo viên - vừa ở trường về, tôi lại đem câu chuyện ấy ra kể lại. Thay vì giải thích, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện khác như sau: ‘Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn đề cao thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đánh giặc Tây, đánh Mỹ… Cuối cùng, cháu gọi một học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ ‘dũng cảm’ là gì. Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp: ‘Nghĩa là…đéo sợ!’ - Mấy ngày sau, cháu có cơ hội được tiếp xúc với ông bộ trưởng Giáo Dục và Đào Tạo, cháu đem chuyện ấy ra kể cho ông ấy nghe bởi ‘sự cố’ có liên quan đến trách nhiệm của ông. Sau những phút suy nghĩ lung lắm, ông nhìn cháu một cách nghiêm túc, gật gù đầu rồi chậm rãi trả lời: ‘Ứ, mà nó cắt nghĩa như thế, kể ra cũng… đéo sai!’
Cô giáo kết luận: ‘Đấy, bây giờ luân lý, văn hóa của con người dưới chế độ này như thế đấy, bác ạ. Cháu sợ rằng rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng trở thành như vậy thôi. Làm sao tránh được?!!’
Tôi chưa kịp phát biểu gì thì ông bố đã rầu rĩ thở dài: ‘Đất nước kiểu này thì quả thật… đéo khá!’”
Dĩ nhiên “nhân dân ta” không chủ tâm chửi thề, nói tục nhưng chế độ đã “tôi luyện” người dân nên như vậy. Tại sao ở Việt Nam ngày nay lại lắm nạn trộm cắp như rươi thế? Tại sao tệ nạn mại dâm lại “trăm hoa đua nở” đến thế? Tại đói. “Đói, đầu gối phải bò”. Chế độ đã chủ trương thống trị người dân bằng phương pháp “quản lý” dạ dày. Vậy thì người dân chỉ có duy nhất một con đường để sinh tồn, ấy là “thời thế, thế thời phải thế - thế thôi!”.
Sự mỉa mai là chế độ lại không ngừng phát động “thi đua văn hóa”, thành ra như ông Văn Quang đã “thành khẩn khai báo” trong bài viết của ông: “Chỉ vì bệnh thành tích mà hàng loạt khu phố Văn Hóa, phường Văn Hóa ‘mọc’ lên, trong khi chính ở những nơi đó, tệ nạn xã hội vẫn còn đầy rẫy”… Sau 15 năm phát động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại thành phố Sài Gòn, à quên “thành phố Hồ Chí Minh” thì nay dễ thấy nhất ở Hồ Chí Minh là “tình trạng xả rác, nước thải, các nhà buôn bán vẫn vô tư lấn chiếm lòng lề đường làm nơi buôn bán, đậu xe tràn lan…” Và cũng ở Hồ Chí Minh này, “không chỉ có cướp giật, mà tình trạng gái mại dâm chèo kéo khách hoạt động ngày đêm… vẫn ngang nhiên diễn ra”.
Kẻ hèn này sung sướng đến tê tái người khi được biết qua lời kể của ông Văn Quang là “mới đây, một quan đầu tỉnh, ông bí thư thành ủy đã ‘truyền đạt’ cho các quan chức cấp dưới rằng: “Cán bộ bây giờ phải biết tập xấu hổ”!!!
Một người biết xấu hổ khi làm việc gì sai quấy là người ấy còn biết liêm sỉ, tức là còn biết và muốn vươn lên tới những vẻ đẹp của Chân - Thiện - Mỹ. Nói cách khác, người này còn có Văn Hóa vậy. Quả như ông Văn Quang đã xác nhận: “Đấy là lời ‘dạy dỗ’ mới được nghe thấy lần đầu” ở Việt Nam.
Kẻ hèn này long trọng hứa: Nếu ông bí thư này nay mai bỗng bị… tai nạn vì dám đi ngược lại “3 dòng thác cách mạng”, tôi nguyện sẽ về Việt Nam để thắp cho ông một nén hương. Đó là nén hương Cảm Phục và Cảm Tạ - vốn là những nét đặc trưng trong Văn Hóa và Luân Lý Việt Nam vậy! – (HM)