Sunday, 22/03/2020 - 07:53:21

Lạm bàn về nhạc Jazz


(Getty Images)

 

Bài CHU TẤT TIẾN

Âm nhạc hay hội họa là những món ăn tinh thần của nhân loại. Không có âm nhạc, không có hội họa, con người sẽ chỉ là những xác chết biết đi. Vì là món ăn, cho nên khẩu vị của mỗi người mỗi khác nhau. Thực tế, âm nhạc là những đột phá của tâm hồn nghệ sĩ, nghĩa là "thích sao, viết vậy, vẽ vậy, người ơi!” không có một cái khung sắt nào cho người viết nhạc hay cho họa sĩ cả, mặc dù cũng có những cái gọi là "thể loại.”

Với hội họa thì nào là Impresionism, Cubism, Dada, Classicism, Rococo... Nhưng vì cái Bản chất Tự Do, Phóng Khoáng trong tâm hồn nghệ sĩ nên dần dần nẩy ra những nét vẽ mới. Từ Imrpessionism lại nẩy ra Neo-Imrpressionism, từ Classcism cũng đẻ ra Neo-Classicism... Từ Cubism lại nẩy ra Futurism, vân vân và vân vân, nghĩa là các nghệ sĩ nhà ta cứ thoải mái chế ra mấy cái "style" mới, tùy hứng. Mới đây, có người dán lên tường một quả chuối, thế là trúng mánh được hơn $100,000 tiền tươi. Dĩ nhiên, cũng có cái hứng không chấp nhận được. Thí dụ như vẽ lá cờ vàng lên thành cái chậu để người làm móng chân đạp lên, thì hoàn toàn không phải là “nghệ thuật” mà là “quỷ thuật,” hay “ngu thuật.”

Âm nhạc cũng thế, nghĩa là nhạc sĩ tùy hứng khởi lúc nào đó, mà giòng nhạc cứ tuôn chảy ra lai láng. Vì thế mà luôn có biến chiêu trong âm nhạc. Thực tế, âm nhạc thế giới cứ thay đổi cuồn cuộn như sóng trào. Từ Âm Nhạc Cổ Xưa (Ancient Music) trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 5, 6, chỉ là Nhạc Nghi Lễ, hoặc chôn người chết, hoặc chúc mừng Vua Chúa lên ngôi, âm nhạc dần dần phát triển ra đến chốn bình dân, người ta vừa ca hát vừa nhảy múa.

Đến khi những khí cụ âm nhạc cải tiến, thì âm nhạc bay bổng lên một tầng cấp cao vút. Từ nhạc cụ đầu tiên: Trống, là những thùng rỗng, ống rỗng, có bịt hai đầu bằng da, hoặc bằng đồng (như trống đồng Việt Nam thời Đông sơn) đến chuông, đàn gõ, chuyển qua đàn dây như guitar, violin, qua nhạc cụ thổi bằng hơi như sáo, rồi đến kèn, và đàn gõ phím (dương cầm). Kèn cũng biến thiên thành nhiều loại: trumpet, clarinet, oboe, piccolo, saxophone…Violin cũng có nhiều bà con như Viola (vĩ cầm trầm), rồi Cello (trung hồ cầm), Contrabass (Đại hồ cầm).

Một khi mà có đàn dây (mỗi dân tộc có một loại đàn dây khác nhau), thì những người hát rong với đàn dây trên lưng lừa, là những tinh hoa của dân tộc, thì luôn được đón mừng trọng thể. Tuy nhiên, vào những thế kỷ đầu sau Công Nguyên, âm nhạc vẫn hạn chế ở số lượng (quantity) và chất lượng (quality), nghĩa là vẫn chỉ là những câu lên bổng xuống trầm, lặp đi lặp lại, rất hiếm những giọng hát hay và những bài hát hay.

Điều quan trọng là âm nhạc vào đầu Công Nguyên vẫn là nhạc cung đình, nghĩa là chỉ vương hầu, Vua, Chúa mới được tận hưởng âm nhạc cao cấp. Tại nhiều vương quốc, nếu có kẻ bình dân nào dám cất lên tiếng hát hay hơn người của Vương quyền là bị xử tội nặng, trừ khi đến hát phục vụ cho Vương Hầu. Âm nhạc thời đó đồng nghĩa với độc quyền của vương quyền. Bình dân chỉ có thể nhảy múa những điệu bình dân, tập thể mà thôi.

Nhưng đến thể kỷ thứ 3, âm nhạc đã chuyển biến: Tôn giáo ca. Người theo đạo Công giáo đã chế ra những bài hát đạo nhẹ nhàng, để giúp nhau lên tinh thần trước sự đàn áp dữ dội của Vua. Nhưng, theo luật Đời, hễ càng bị đàn áp, thì con người càng chống đối bằng hình thức này hay hình thức khác. Một giọng ca lạ lùng đã nẩy sinh, giọng ca của Cecilia, thuộc đế quốc La Mã. Cecilia sinh ra trong một gia đình quý tộc vào khoảng năm 214, thời mà La Mã cấm đạo Công giáo. Nhiều tín hữu Công Giáo đã phải trốn chui, trốn nhủi để khỏi bị tử hình. Một số lớn, không nơi ẩn nấp thì đào hang dưới đất mà ở như chuột. Ăn khô, ăn thiếu, thiếu nước, bệnh tật làm cho những tín đồ Công giáo này chết rất sớm. Khi chết, thì gia đình đào ngách hang bên hông, đặt xác vào đó, cho thối rữa. Sống trong hoàn cảnh khủng khiếp như thế, nhưng người Công giáo vẫn không chịu bỏ niềm tin vào Chúa Jesus và vẫn hát cho nhau nghe.

Tìm hiểu được cuộc sống đức tin mạnh mẽ như vậy, cô bé Cecilia đã tỏ ra khâm phục và dần dần say mê đạo Chúa. Với năng khiếu hát và sáng tác nhạc, Cecilia đã viết lên những bài hát tuyệt vời ca tụng Chúa. Đến khi trưởng thành, cô phải kết hôn với một người quý tộc La Mã khác, nhưng cô đã thuyết phục chồng cho cô giữ mình đồng trinh, và rồi cô lại thuyết phục chồng cô theo đạo luôn. Bí mật của hai người dần dần bị phát giác. Cecilia và chồng bị kết án tử hình. Trước khi bị đao phủ giết, Cecilia đã cất lên tiếng hát tuyệt vời của cô lần cuối cùng. Sau này, Giáo Hội Công Giáo đã phong thánh cho Cecilia, và từ đó, Thánh Cecilia đã là Thánh bảo trợ cho nhiều ca đoàn trên thế giới.

Sang thế kỷ thứ 4, Hoàng đế La Mã cảm thấy những bất công mà người Công giáo đã phải chịu trong 300 năm qua, nên đã cho người Công Giáo được tự do thờ kính, tự do hát nhạc đạo. Từ đó nhiều bản thánh ca ra đời và vẫn được hát cho đến bây giờ. Thế kỷ thứ 19, tại một nhà thờ nhỏ thuộc làng Oberndorf, nằm giữa những rừng thông tuyết phủ quanh năm thuộc nước Áo, bài Silent Night được phát lên trầm ấm làm cho nhiều người mê say để rồi qua nhiều trăm năm, bài này đã trở nên một bài hát quốc tế, và được dịch ra hàng trăm ngôn ngữ khác nhau.

Cũng thế kỷ 19, một biến cố về âm nhạc đã xảy đến. Tại các vùng miền Nam nước Mỹ, tuy chế độ nô lệ không còn chính thức nữa, nhưng thực tế, những người da đen nghèo vẫn còn bị kỳ thị, vẫn phải đi làm tôi mọi cho người da trắng: hầu phòng, hầu bàn, chèo thuyền, bốc vác, đốt lò tầu thủy, làm thợ ở các nông trại. Những người nô lệ thời đại mới này vẫn có thể bị treo cổ, bị bắn giết, bị đốt nhà bởi nhóm KKK hung hãn. Một số mấy người nô lệ thời đại mới này buồn bã quá, sầu thảm quá, mới “hú” lên những lời than vãn, không theo một khung điệu nào thành ra nhạc Blues. (Blues có nghĩa bóng là buồn thảm, tuyệt vọng!)

Bài hát Blues đầu tiên có những câu bình dị, đại loại như: “Hôm qua, thằng Bill chết rồi. Nó được đưa ra đồng chôn sơ sài. Hồn nó bây giờ ở đâu? Có lên Thiên đàng thực không?” Gợi hứng từ những câu “hú” buồn bã đó, mà những người khác chế biến thêm, dài thêm, lên bổng xuống trầm nhiều hơn và từ đó, nhạc Blues ra đời. Vì chỉ để “hú” lên cho đỡ buồn, mà nhạc Blues là những ca khúc ngắn, ít khi quá 12 trường canh (measures), và cũng vì sự ta thán tự do, các nốt nhạc thay đổi, lên xuống đột ngột, không theo một trình tự hòa âm nào như của nhạc Pop (popular = nhạc phổ thông). Thí dụ: Với nhạc Pop, thì thứ tự của các hợp âm trong câu đầu thường là 1, 4, 5 (Do, fa, Sol), nhưng với nhạc Blues thì tùy hứng của nhạc sĩ mà có thể là 1, 2, 3, 5, 1…

Nghe các điệu Blues buồn thảm đó, mà một số những người da đen có tâm hồn âm nhạc thấy …không được buồn hoài, cho nên họ đổi điệu, thay vì buồn, lại hát vui, theo điệu đập chân nhảy của người Phi Châu (coi phim về Phi Châu, sẽ thấy những đội ngũ người da đen xếp thành vòng tròn rồi nhảy nhịp nhàng theo các điệu trống bập bùng, bập bùng bùng) và thế là nhạc Jazz ra đời. Khi nói đến nhạc Jazz thì phải nói đến những bản nhạc không lời được chơi bằng các loại nhạc cụ, đa số là Kèn và Piano, thỉnh thoảng có ghi-ta.

Vậy, nhạc cụ hồi tiên khởi đó ra sao? Xin thưa, một điều không ai tưởng tượng được là nhạc cụ tiên khởi của nhạc Blues là…. mấy khúc xương bò! Nô lệ thì làm gì có phương tiện mua đàn, cho nên một nhóm người, ngồi bên đống lửa, cầm mấy khúc xương gõ vào nhau thành nhịp, đồng thời cất lên những giọng ma quái, bất chấp âm luật, accords, trường canh, trường độ, và cường độ (vì họ có học nhạc đâu mà biết luật về Accords). Tâm hồn chất chứa điều gì thì phát ra điều đó theo cung bậc nào mà họ cảm thấy “đã đứa”…. Blues là như thế đó! Rồi… biến cố xảy ra. Một ông chủ nô nhân từ, thấy mấy tên nô lệ này có giọng hát hay quá, mới quẳng cho cái đàn banjo! Trời sinh ra người da đen có DNA âm nhạc (và Sport) quá lạ lùng, nên vừa chộp được cái đàn Banjo là họ say sưa tập luyện, mặc dù không biết CHỮ, KHÔNG BIẾT KÝ HIỆU ÂM NHẠC!

Rồi nữa… một người tốt bụng khác đem tặng cây Mandoline… Dân nô lệ cũng chơi tuyệt diệu.. Rồi GUITAR! A! Đây mới chính là nhạc cụ thích hợp cho Blues. Thế là họ quẳng Banjo và Mandoline, chỉ chơi Guitar, mà chơi ác liệt. Nhưng chưa đã! Lại một ông Phúc hỏi họ có muốn chơi Kèn không? Thử xem sao! Không ngờ tiếng Kèn ai oán, làm nổi bật nhạc Blues lên! Từ đó, họ họp nhau lại thành “band” chơi kèn và từ đó, nhạc Jazz ra đời với vài cây kèn, mà kèn chính là Saxophone, cùng với Trompet (Trumpet) rồi Tromba, rồi Trombone… líu lo như một đàn chim. Người Mỹ trắng từ đó mới nới bớt kỳ thị với người da đen. TUY NHIÊN, CÁC BAN NHẠC DA ĐEN ĐỀU PHẢI ĐI VÀO BẰNG CỬA SAU, cho dù sau đó thì đứng trên sân khấu trình diễn và được hoan hô nhiệt liệt.

Lúc đó Louis Amstrong đã nổi tiếng mà đôi khi vẫn  phải vào Bar bằng cửa sau! Người Mỹ có tính Kỳ thị vô cùng! Người da đen tức khí, bèn học Piano. Lại Trời cho! Da Đen có DNA chơi Piano tuyệt cú mèo. Nghe người da đen mà chơi Piano thì thật là mê man…Rồi người da đen tự viết nhạc, những bản nhạc cho Piano này nếu đem cho mấy nhạc sĩ thường thì toát mồ hôi, vì Accord đổi liên hồi, và các nốt móc kép ba, kép 4, nốt chạy rất nhanh, người không rành mà nhìn vào thấy muốn mù mắt luôn. Nhạc Jazz từ đó thống trị nước Mỹ. Các ca sĩ, nhạc sĩ da đen được người mê âm nhạc coi như những anh hùng, cũng đồng thời, bị người kỳ thị chửi bới, thóa mạ. Có kẻ điên nhảy lên sân khấu đập nhạc cụ của ban nhạc rồi hùng dũng đi ra. Khi cả ban nhạc đi xe lửa thì vẫn phải chọn toa cũ mèm, cùng với những bà đi chợ, thúng mủng lùm xùm. 

Đến năm 1930-32. Nước Mỹ khánh kiệt. Người ta đói quá, nhất là da đen, chẳng biết làm gì, bèn kéo nhau ra đường nắm tay nhảy vòng vòng cho đỡ đói! Ai dè nhạc Swing ra đời. Từ đó âm nhạc Mỹ lên ngôi mà đa số là Da Đen! Thỉnh thoảng mới có 1 ông da trẳng lẻ loi trong các ban nhạc nổi tiếng của Mỹ.

Về người hát nhạc Blues nổi tiếng thế giới: Robert Johnson, B.B. King Riley, Howling Wolf, Muddy Waters.. Những  ca sĩ có tên này thì người Việt mình khó nhớ, nhưng có hai ca sĩ lừng danh mà hầu như ai cũng biết: Nat King Cole và Ray Charles! Nat King Cole là ai? Nguyên thủy là một cậu bé học đàn từ bà mẹ, là người chơi đàn nhà thờ. Có khiếu Trời cho, Nat King Cole lập thành ban nhạc Jazz cho riêng mình và chỉ chuyên chơi nhạc. Một hôm, anh ca sĩ chuyên nghiệp vắng, chủ Bar nhờ anh hát. Và anh cất tiếng hát một bài Blues… làm rụng tim khán giả! Từ đó, sự nghiệp anh lên như diều, vừa làm ca sĩ hát đủ thể loại (Pop, Swing, Blues), vừa nhạc sĩ, vừa làm phim. Hát chung với Louis Amstrong. Tiếc thay, vì hút thuốc nhiều quá, anh qua đời. Người chủ cử Frank Sinatra, hồi đó mới nổi tiếng, thế chỗ Nat King Cole trong ban nhạc.

Còn Ray Charles: cậu bé mê nhạc từ nhỏ, thích nghe lén một ban nhạc nhà thờ. Nhạc sĩ thấy cậu bé có khiếu, bèn dậy cho chút đỉnh. Đến khoảng 5 tuổi, vì cứu em ra khỏi một thùng sơn, bị mù. Khóc lóc suốt ngày và vì không thể làm gì với đôi mắt mù, nên nằng nặc đòi học nhạc. Mẹ là một người nghèo khổ nhưng cũng ráng đưa con đi học với ông nhạc sĩ Nhà thờ. Ai dè cậu bé được Trời cho khiếu, chơi Piano điêu luyện (dù không đọc được nốt nhạc), và trở thành nhạc sĩ Piano, ca sĩ hát nhạc Blues, nhạc nhà thờ tuyệt vời. Trong thế giới âm nhạc, chỉ có mình Ray Charles được tặng 17 Grammy Awards về âm nhạc.

Tiếc thay, với trào lưu chơi nhạc bằng lời, nên nhạc Jazz dần dần chìm lặn. Bây giờ chỉ còn ít người biết thưởng thức nhạc Jazz. Hầu như toàn bộ thế giới mê man với các ca sĩ nổi tiếng hát nhạc Pop (Popular = thông dụng). Thiên hạ ưa nhảy đầm (sao không có nhảy Tây?) thì mê man với Cha Cha Cha, Bebop, Valse, Tango, hay Slow…Những ca sĩ có giọng ca vàng hốt chục triệu đô la một năm. Trong khi đó, các nhạc sĩ trình diễn là những người cả đời tập luyện toát mồ hôi, lại chỉ kiếm được rất ít. Nhạc sĩ nào được hưởng 1/100 thành quả của ca sĩ đã là khá giả. Còn các nhạc sĩ nhạc Jazz chỉ mong sống qua ngày, với tâm hồn nghệ sĩ thực sự của họ, những người này “không ke” cái cuộc đời ô trọc này! Thế giới này thật là “unfair,” phải không, các bạn?

 

 

 

 

 

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp