Bạn thích bài này?
Font-Size:
Làng mới Tân Thủy
(VienDongDaily.Com - 16/09/2011)
Cách Nha Trang về phía Bắc hơn 20km, có một dốc không cao lắm nhưng được gọi là đèo, đèo Rọ Tượng.
Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Chùa Linh Ứng

Cách Nha Trang về phía Bắc hơn 20km, có một dốc không cao lắm nhưng được gọi là đèo, đèo Rọ Tượng. Có lẽ một thời xa xưa nào đó, nơi đây rừng núi hoang vu, người ta gài bẫy bắt voi nên có tên gọi như ngày nay chăng. Từ trên đỉnh đèo nhìn xéo về hướng Đông du khách sẽ thấy một làng toàn mái ngói mới đỏ tươi, nằm bên dòng sông chảy ra biển. Tôi gọi làng mới Tân Thủy, vì trước đây làng toàn mái tôn cũ kỹ, xiêu vẹo nghèo khó nay nhà xây mái ngói mới tinh. Tất nhiên với thời gian thì thứ gì cũng phải đổi thay, “Ai khôn ba họ, ai khó ba đời”. Tôi về thăm Tân Thủy.


Vườn tượng

Từ Nha Trang chạy xe (1) ven con đường biển lúc trời vừa mờ sáng, không gian yên tĩnh, cảnh trí trong lành, trời biển bao la, tôi bắt đầu một ngày đầy niềm hưng phấn. Xuất hành mà được những giây phút thoáng đạt như vầy chắc chắn là một ngày được việc. Ra đến quán Núi Một ngoài Đường Đệ, gặp ngay chủ đề “cùng chung số phận”, hai ghe đánh cá, chiếc trên cạn không máy, chiếc dưới nước bị lật chìm, hình ảnh quen thuộc với thân phận con người hôm nay. Qua bến cá Lương Sơn, ghe chài về bến, người mua kẻ bán ngược xuôi tấp nập. Con buôn từng nhóm dài theo cầu tàu, hình ảnh tuy quen mà màu sắc lạ, lại có cả em bé theo mẹ, “mô típ” này tôi rất thích, thêm một hai con chó lảng vảng kiếm ăn thì càng hay. Với người Tây Phương, trẻ em, chó mèo không bao giờ được thả rong như vầy, ở Việt Nam, đó là “bản sắc dân tộc”. Ngày nay người dân lao động tuy vất vả tay chân nhưng áo quần đôi khi lại là sắc màu của dạ hội, đỏ vàng xanh tím loạn cào cào. Với người nhiếp ảnh chẳng hề gì, tùy cảm hứng lựa chọn bố cục sao cho hài hòa, diễn đạt được điều mình muốn nói. Sau gần nửa giờ tôi đã bắt được vài hình ảnh kha khá. Tiếp tục “phi ngựa đường xa”, tôi chạy về hướng QL 1A ra Phú Hữu.

Từ Lương Sơn ra đèo Rọ Tượng không có gì mới lạ, chỉ thêm nhiều quán Gió, nhưng khách dừng chân chẳng bao nhiêu. Nói theo văn chương Việt Nam bây giờ, mỗi sinh hoạt được kèm theo từ “văn hóa” để khuyến cáo hay cho điểm: “Anh này thiếu văn hóa xếp hàng” – “Chị kia kém văn hóa giao tiếp”, theo kiểu này có thể nói “Văn hóa cạnh tranh” của người Việt trong nước “hơi bị thiếu văn hóa”. Tỉ dụ trên đường Nguyễn Khuyến gần ga Hà Nội có 2 quán chả cá Sinh Từ, một quán đã chơi trội ghi hàng chữ: “chú ý quán bên cạnh mới mở”. Một lô quán Gió có một “quán Gió gốc” ý nói những quán kia là quán nhánh. Theo tôi thì chẳng nên tin ai mà nên tự cảnh giác, có thể nói hầu hết mua bán bây giờ là một trò lừa đảo cả.

Làng Tân Thủy

Lên đỉnh đèo dừng xe ngay cổng chùa Linh Ứng, ngôi chùa mới có sau 75, có lẽ cùng thời gian đổi thay của làng chài Tân Thủy. Chùa nằm bên sườn đèo nhìn xuống dòng sông chảy qua làng. Cảnh hay lắm, chính nhờ quang cảnh dưới làng mà vẻ đẹp ngôi chùa được tôn lên nhiều. Chùa thì địa phương nào cũng có và thời gian sau này chùa xây theo qui mô lớn, nhất là chùa miền Bắc. Chùa Linh Ứng yên tĩnh không thấy khách vãng lai, không nghe tiếng chuông mõ, tôi đi lần xuống dốc cổng vào chùa. Sân chùa không rộng nhưng chùa có mấy điểm đặc biệt: Tượng Bát Bộ Kim Cương, 8 pho tượng đá đen cao hơn mét. Nét tượng rắn rỏi có thần và mới mẻ, tượng Bát Bộ Kim Cương ở chùa Mía Sơn Tây tôi đã đến thăm thì thể hiện tinh thần tôn giáo nhiều hơn. Chùa Linh Ứng cũng có tượng Bồ Tát Quán Thế Âm cao lớn đẹp, tiếc là không cân xứng với khuôn viên nhà chùa. Thấy có chú tiểu đang  sửa soạn hoa quả dưới hiên chùa, tôi chào hỏi thăm:
- Thưa chú, chùa Linh Ứng như mới xây sau 75?
- Dạ, xây năm 1994 và trùng tu năm 2000.
- Tôi thấy toàn bộ tượng ở đây có nét nghệ thuật khá hơn nhiều nơi khác, tượng do nhà điêu khắc nào chú?
- Ông Mười ở Nha Trang, ổng làm tại nhà rồi mang ra dựng. Làm tượng ngoài tay nghề giỏi, cần có cái tâm đạo mới đạt.
Chú tiểu cũng giảng cho tôi ý nghĩa bộ tượng Tứ Đại Thiên Vương (2), tượng Hộ Pháp, tượng Bồ Tát Tiêu Diện…


Sinh hoạt trong làng

Rời chùa Linh Ứng tôi xuống làng Tân Thủy. Cuối dốc đèo, bên phải có đường xuống làng, đường bê tông, kiểu đường làng thông dụng ngày nay. Đoạn đường chỉ 200 mét đã đụng chân đồi, nhà cửa nhìn từ trên cao, màu sắc đẹp nhưng thực tế thì nhếch nhác, lôi thôi chưa thoát khỏi truyền thống xóm chài. Tuy làng chài mà nhà nào cũng bày bán đủ thứ linh tinh, bánh kẹo, mì cháo, v.v., và vệ sinh đi sâu vào làng thì khỏi nói. Thấy một ông lão tôi hỏi:
- Thưa bác, làng mình trước đây tôi thấy hầu hết có vẻ nghèo, mái tôn ọp ẹp, nay toàn nhà xây, xin bác cho biết do đâu?
- Nhiều nhà nhờ người đi nước ngoài giúp, một số làm nghề trúng, nhưng coi vậy chứ cũng không giàu có gì đâu.
- Còn ngôi chùa thưa bác?
- Chùa do thầy Châu, chùa thì giàu.
- Sao lại giàu hả bác?
- Nhờ tiền ở ngoài gởi về cúng, phần bá tánh cúng. Năm cất năm làm…

Thấy ông lão có vẻ “bức xúc”, tôi cảm ơn rồi đi rong vào làng. Cuối đường có lối rẽ ra bời sông, đường hẻm, đá lởm chởm, phải gửi xe đi bộ. Nhiều nhà chỉ được 4 vách tường, mái ngói chứ nhìn vào trong thấy cũng xác xơ, nhưng hầu như nhà nào cũng có TV, máy đĩa, ca hát rầm rầm như nhạc hội. Không riêng gì dân chài Tân Thủy mà có thể nói mọi miền quê hương hôm nay, ai cũng có cuộc sống hào nhoáng (tùy đẳng cấp) đua chen, làm một tiêu mười. Đây là cội rễ của tệ nạn xã hội mà báo chí phơi ra hàng ngày. Ở một góc nào đó phải công nhận dân chài ngày nay đã vươn lên khỏi tối tăm cát sỏi, đã có một chỗ ở, có phương tiện giải trí và đã làm quen với ánh sáng văn minh (tuy chỉ là hình thức). Làng chài nhưng loại chài sông nên không có ghe lớn mà thuyền câu là chính. Ngày trước mỗi lần qua đèo nhìn xuống làng thấy ghe câu đặc sệt trên sông, cảnh thật bắt mắt. Nhất là đối với dân nhiếp ảnh thì “ngứa tay” không chịu được. “Tham quan” chừng tiếng đồng hồ là hết chỗ đi.

Trên đường về, thấy bảng “Ba Hồ 3km”, tôi rẽ vào, cũng đã hơn 20 năm không biết nay Ba Hồ ra sao. Ba Hồ đúng nghĩa là suối có ba cấp, nước trên cao đổ xuống hồ 3, hồ 2 dưới cùng là hồ 1. Trước 75 thỉnh thoảng tôi vẫn đi Ba Hồ, suốt tuần với phấn trắng bảng đen, bỏ một buổi vào rừng tắm suối, nghe tiếng chim, không gì cũng nhẹ người một lúc. Đường vào Ba Hồ hôm nay đổ bê tông, nhưng chỉ được hơn cây số, còn lại là đường đất nhiều vũng lội, nhà dân lưa thưa. Không một bóng người mình tôi chạy sâu vào núi, tự nhiên thấy gai gai sau lưng. Lúc thấy tường cổng xây dở, tôi yên tâm. Tôi có cảm tưởng một trang trại bỏ hoang, chạy thẳng tuốt vào trong thì có người kêu lại:
- Để xe ngoài này, mua vé.
- Vé gì?
- Vé du lịch.
- Tôi thấy đã xây dựng gì đâu mà vé? Đất nước như của riêng chỗ nào cũng rào bán vé, đúng là siêu tự do.
- Chỗ người ta làm ăn mà nói…


Ngõ vào Ba Hồ

Dưới chiếc dù vải vài ba người ăn mặc như dân bụi ngồi cai quản “khu du lịch”, trông thật thảm hại. Vé 10 nghìn, gửi xe 2 nghìn, tôi đưa 12 nghìn chỉ nhận giấy gửi xe còn vé du lịch là tiền cúng dường. Thắc mắc thêm mất thì giờ, tôi theo con đường nhỏ lát đá đi nhanh vào rừng, hai bên đường đang phá rừng lấy mặt bằng xây nhà (không biết nhà gì) càng đi càng khó và nhất là cảnh lạnh tanh thấy ghê ghê. Giả thử mấy ông chủ du lịch cho người nằm sẵn khệnh mình một gậy rồi vứt xuống sông thì cũng chẳng ai biết. Tôi vội quay ra. Biết thế là đủ, mọi “qui hoạch du lịch” đều cùng một dạng, bày trò móc túi dân.

Nghĩ cũng tội cho dân mình, từ bãi biển đến suối đồi, nơi nào coi được đều bị rào cổng thu tiền. Cứ như đất nước là tài sản riêng của một người. Thời “Mỹ Ngụy”, Suối Tiên Ba Hồ, Yan Bay, hay bất cứ danh lam thắng cảnh nào, ai cũng tự do lui tới thăm viếng, thời nay Tháp Bà (Nha Trang), đền Cửa Ông (Quảng Ninh)…, ngày lễ hội cũng phải mua vé vào thắp nhang.

Thấy tiếc cho Ba Hồ và Suối Tiên, trước 75 thiên nhiên cảnh đẹp, suối thác trong lành, bỏ một ngày vui chơi không tiếc, bây giờ phải trả tiền để được xem những công trình “sáng tạo” nham nhở, không giống ai. Mọi sản phẩm đều phản ảnh tính chất của thời đại, thấy biết chứ người dân cũng chẳng làm gì hơn, có chăng chỉ thêm “bức xúc” đau lòng.

Tháng 6-2011

(1) Nói theo văn chương tiến sĩ ngày nay là: “Điều khiển phương tiện xe máy tham gia giao thông”.
(2) Đông Thiên Vương cầm kiếm thần có khắc chữ Địa, Thủy, Hỏa và Phong. Kiếm thần bằng kim loại để chế ngự khí Mộc từ hướng Đông. Nên đặt biểu tượng này quay về hướng Đông.
Tây Thiên Vương cầm đàn tỳ bà 4 dây sẽ khiến cho những quả cầu lửa từ trên trời rơi xuống, vì vậy tiêu diệt năng lượng Kim ở hướng Tây. Nên đặt biểu tượng này ở hướng Tây.
Nam Thiên Vương cầm dù thần, khi mở dù ra sẽ tạo ra bóng tối làm dập tắt năng lượng Hỏa ở hướng Nam. Dù có thể tạo ra nhiều sóng biển và động đất để hủy diệt tất cả lực lượng âm. Nên đặt biểu tượng này quay về hướng Nam.
Bắc Thiên Vương một tay cầm ngọc trai, tay kia cầm con rắn. Nên đặt biểu tượng này quay về hướng Bắc.
(Tài liệu Net, sắp xếp nhà cửa theo phong thủy)


Du lịch sinh thái?

Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 11, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc: Tran Cong Nhung, P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Điện thoại: (310) 978-4182. Email: trancongnhung@yahoo.com - Website: www.ltcn.net


Nguồn: http://www.viendongdaily.com/lang-moi-tan-thuy-62NoTPoG.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Các tin khác

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo