Toàn Như
Nhắc đến nền đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, người ta thường liên
tưởng đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu.
Nhưng
có một nhân vật nữ cũng nổi tiếng không kém là bà Trần Lệ Xuân, một nhân vật
từng một thời đầy quyền uy tại Miền Nam trước khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ.
Bà Trần Lệ Xuân là phu nhân của ông Ngô Đình Nhu, cố vấn của Tổng Thống Diệm, nên người ta thường quen
gọi bà là Bà Ngô Đình Nhu hay vắn tắt là Bà Nhu. Tên
Lệ Xuân có thể hiểu như là “mùa xuân đẹp” hay “mùa xuân diễm lệ”, nhưng cũng
còn có nghĩa là “nước mắt mùa xuân” hay “mùa xuân đầy nước mắt”. Có lẽ tên bà đã
mang cả hai ý nghĩa đó vì cuộc đời bà đã trải nghiệm qua
những mùa xuân huy hoàng diễm lệ nhưng cũng có những mùa xuân buồn rầu ảm đạm đầy
nước mắt.
Bà Nhu sinh năm 1924 tại Huế, trong một gia đình quyền quý. Mẹ của bà là Thân Trọng Nam Trân, dòng dõi
cháu gái của vua Đồng Khánh; còn cha bà là luật sư Trần Văn Chương. Bà học
trung học tại trường Albert Sarraut ở Hà Nội nhưng chưa tốt nghiệp (cũng có tài
liệu nói bà đã đậu tú tài Pháp). Bà có thể nói tiếng Pháp thông thạo, nhưng lại
không viết được tiếng Việt. Vì vậy sau này, khi cần đọc diễn văn, bà thường
soạn thảo bằng tiếng Pháp rồi cho người dịch lại ra tiếng Việt. Năm 1943, bà
kết hôn với ông Ngô Đình Nhu hơn bà tới 14 tuổi và cải
sang đạo Thiên Chúa. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, bà được coi là Đệ Nhất Phu
Nhân mặc dù chồng bà chỉ là cố vấn của Tổng Thống độc thân Ngô Đình Diệm. Ngoài ra bà còn là dân biểu Quốc Hội và chủ tịch
Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới. Chính trong thời gian này, bà đã chứng tỏ là một
con người đầy quyền uy và quá tham vọng khiến cho nhiều người chỉ trích là bà đã
quá lộng quyền. Sau cuộc đảo chánh của các tướng lãnh dẫn đến cái chết của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm và chồng bà vào năm 1963,
cuộc đời bà đã đi vào một ngã rẽ không mấy vui. Vào lúc xảy ra cuộc đảo chánh,
bà đang cùng cô con gái lớn là Ngô Đình Lệ Thủy đang
có mặt ở Mỹ để “giải độc” cho chế độ nhà Ngô trước cao trào đấu tranh của Phật
giáo đang căng thẳng ở trong nước. Nhưng thay vì giải độc, bà lại còn đổ thêm
dầu vào lửa khi gọi việc tự thiêu của một nhà sư Phật giáo là một vụ nướng sư
(monk barbecue show). Bà còn ngạo mạn tuyên bố trong một cuộc họp báo với báo
giới Mỹ rằng: “Nếu các người Phật giáo muốn có một sự nướng khác, tôi sẽ rất
vui vẻ cung cấp săng và diêm quẹt” (If the Buddhists wish to have another
barbecue I will be glad to supply the gasoline and a match). Không những vậy,
bà còn nói thêm: “Tôi có thể vỗ tay xem một màn trình diễn nướng sư khác” (I
would clap hands at seeing another monk barbecue show).
Nhưng cuộc giải độc của bà Nhu chưa xong thì cuộc đảo chánh đã
xảy ra khiến cho cả chồng bà lẫn Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều
bị chết thảm. Kể từ đó, bà bắt đầu sống cuộc đời lưu
vong, nhưng không phải ở Mỹ, mà ở Ý Đại Lợi, và sau cùng bà cư ngụ tại kinh đô
Paris, Pháp Quốc. Trong những năm tháng lưu vong này, bà đã trải qua nhiều mất
mát thật đau lòng trước sự qua đời của những người thân yêu trong gia đình. Đầu tiên là sự qua đời của bà nhạc mẫu Ngô Đình Khả, thân mẫu của ông Ngô Đình Nhu, mất
tại Việt Nam năm 1964, nhưng bà và các con đã không được phép về chịu tang.
Tiếp theo là sự tử nạn của trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy
trong một tai nạn xe hơi tại Pháp vào năm 1967 mà bà có ý nghi ngờ có sự can dự
của người Mỹ (?). Những năm tiếp theo đó, bà lại
lần lượt chứng kiến sự ra đi của những người thân khác trong gia đình, nhưng đáng buồn hơn là trong những lần ấy, vì lý do này hay lý do
khác, bà đã không được dự những tang lễ những người thân yêu này. Như năm 1984,
đức Giám Mục Ngô Đình Thục qua đời ở Mỹ, thọ 87 tuổi, nhưng không rõ vì có
chuyện bất hòa như thế nào với gia đình họ Ngô mà ông Ngô Đình Luyện (em út trong gia đình họ Ngô) đã
không cho mẹ con bà Nhu qua Mỹ dự tang lễ Giám Mục Thục. Ông Ngô Đình Luyện sau
đó cũng từ trần vì bệnh tại Pháp năm 1990, thọ 76 tuổi.
Có lẽ để trả đũa lại việc ông Luyện đã ngăn cản không cho bà dự tang lễ Giám
Mục Thục, bà cũng không dự tang lễ ông Luyện(?). Nhưng đáng buồn nhất là ngay
cả cái chết của song thân bà là ông bà Trần Văn Chương bị chính em trai bà là
Trần Văn Khiêm sát hại ngày 26-7-1986 ở Mỹ nhưng bà cũng không thể qua Mỹ chịu
tang. (Trần Văn Khiêm sau đó được cảnh sát liên bang Mỹ miễn tố vì tình nghi bị
bệnh tâm thần và bị trục xuất qua Pháp).
Sau những cái chết của những người thân đó, bà Nhu đã sống
như một người ở ẩn, ít ai biết bà đã có một cuộc sống như thế nào những năm sau
đó. Mãi cho đến năm 2002, qua một bài báo của nhà báo luật sư Trương Phú Thứ người
ta mới được biết bà đang cư ngụ trong một trong hai căn chung cư do bà làm chủ
ở Paris (Pháp) gần tháp Eiffel. Theo luật sư Trương Phú Thứ, hai căn chung cư
này bà Nhu mua được là nhờ tiền của một ân nhân ẩn danh tặng cho bà mà mãi về
sau bà mới biết đó là bà Capad khi bà này đã tạ thế. Bà Capad, một người Ý ngụ
tại Milan, là một trong bảy người phụ nữ giàu nhất trên thế giới đã hiến tặng
bà số tiền mua căn chung cư này. Bà Nhu đã sống một mình trong căn chung cư đó
trong khi các người con còn lại của bà đều đã thành đạt và đang làm việc ở Âu
Châu. Ngoại trừ người con trai thứ hai là Ngô Đình Quỳnh,
một chuyên gia kinh tế và tài chánh cao cấp, làm việc tại Bỉ, đã ngoài 50 tuổi
nhưng vẫn còn sống độc thân; những người con khác của bà đều đã có gia đình trong đó có người
con trai lớn là Ngô Đình Trác, kỹ sư canh nông, và cô
con gái út Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ luật khoa, đều
kết hôn với người Ý và làm việc tại Ý.
Vào những năm đầu sau khi chế độ đệ nhất cộng hòa sụp đổ,
báo chí Mỹ thường tìm đến bà để phỏng vấn tìm hiểu. Có lần cơ quan truyền thông
Hoa Kỳ NBC đã phải trả cho bà 10.000 Mỹ kim để được phỏng vấn bà trong 30 phút.
Báo chí muốn in hình của bà phải trả 1.000 Mỹ kim cho mỗi tấm hình; còn nếu
phỏng vấn kèm theo hình phải trả 1.500 Mỹ kim. Trong những cuộc phỏng vấn này,
bà đã có dịp trút hết những căm hận của bà đối với Hoa Kỳ và ông Đại Sứ Henry
Cabot Lodge, những người đã hậu thuẫn cho cuộc đảo chánh đưa đến cái chết của
Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chồng bà. Vào tháng Ba
năm 1964, bà đã phổ biến một bản lên tiếng dài 16.000 chữ tố cáo Hoa Kỳ và Tổng
Thống John F. Kennedy (người cũng bị ám sát chết tại Dallas, Texas, sau cuộc đảo
chánh Tổng Thống Diệm ba tuần lễ), đã hành xử giống như phát xít và cộng sản.
Có lẽ chính vì vậy mà sau này bà đã nhiều lần bị từ chối chiếu khán (visa) nhập
cảnh vào Hoa Kỳ (?).
Thái độ cứng rắn đầy tự tôn của bà Nhu đã được báo giới Mỹ đặt
cho bà cái biệt hiệu là Long Nữ “The Dragon Lady” (Dragon Lady, hiểu theo nghĩa
tiếng Anh, là một người đàn bà đầy uy quyền và hách dịch – “a powerful and
domineering woman”). Như một bài viết mà người viết tình cờ đọc được trên
internet, xin lược dịch lại để phổ biến dưới đây: “Bà Nhu, ‘Long Nữ’ của Miền
Nam Việt Nam” của tác giả Peter Brush, đã đăng trong tạp chí về chiến tranh
Việt Nam mang tên Vietnam, số 3, tháng 10-2009.
... Một trong những khuôn mặt được biết đến nhiều nhất và
chắc chắn gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử ngắn ngủi của Việt Nam Cộng
Hòa là Trần Lệ Xuân, hay còn gọi là Bà Nhu, vợ của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ của vị tổng thống Việt Nam đầu tiên Ngô Đình Diệm, và còn là “Đệ Nhất Phu Nhân” không chính thức của
Miền Nam Việt Nam (bỏ một đoạn).
Bà kết hôn với ông Ngô Đình Nhu và
cải sang đạo Thiên Chúa, trở thành một tín đồ Công giáo nhiệt thành và một
khuôn mặt rất quen thuộc trong chính quyền Miền Nam Việt Nam còn non trẻ. Chồng
bà, ông Ngô Đình Nhu, điều khiển chính đảng Cần Lao để ủng hộ chế độ Diệm.
Bà Nhu là một phụ nữ năng động và nhiệt tình trong mọi lãnh vực mà cả những người
bạn và những kẻ thù của bà cũng đã nhìn nhận. Bà đã đóng một vai trò chủ đạo trong việc cải cách về mặt đạo đức mà
Tổng Thống Diệm đã ban bố tại Miền Nam Việt Nam, như đóng cửa các nhà thổ, các động hút thuốc phiện và các sòng
bài. Bà là người đi đầu trong việc ứng dụng đạo đức Công giáo vào Miền Nam Việt
Nam, bao gồm việc bãi bỏ chuyện ly dị, ngừa thai và phá thai. Các hộp đêm và phòng khiêu vũ cũng là mục tiêu. Cuộc vận động lành
mạnh này, trong khi có thể được ngưỡng mộ, đã gặp nhiều thù nghịch bởi những người
không đồng quan điểm về đạo đức với bà Nhu.
"Long Nữ” như bà từng được gọi, cũng là một người say
mê chống cộng đã quyết định rằng phụ nữ nên giữ một vai trò chủ đạo trong việc
bảo vệ đất nước chống việc xâm nhập của cộng sản. Bà đã thành lập một tổ chức
gồm các nữ chiến sĩ. Người ta đã thấy bà trong một tấm hình chụp tại một địa điểm
huấn luyện đang tập bắn súng (lục) 38 ly. Việc này đã nói lên rất nhiều về cá
tính của bà. Vì chưa bao giờ tác xạ trước đó, phát đạn đầu
tiên đã làm bà giật mình. Bà đã phá lên cười và nói rằng sẽ không nao núng và đã
bắn hết năm viên còn lại như một người thiện xạ. Bà cũng khuyến khích việc làm
mới những lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng, những vị Nữ Vương anh hùng của nước Việt
Nam từng chiến đấu chống lại sự xâm chiếm của Trung Hoa.
Bà Nhu, như những người còn lại của nhà Ngô và hầu hết những
người Việt có cùng nền tảng với bà, đều nể trọng gia đình bà. Trong mắt bà, chồng bà là trái tim của chế độ Diệm và
có thể đã không làm điều gì sai trái. Nhận định về việc người Mỹ cố gắng muốn
loại bỏ Ngô Đình Nhu, bà
nói rằng ông Diệm đã từ chối vì ông biết rằng, như bà đã nói, “chồng tôi không
thể làm gì mà không có anh ấy, nhưng anh ấy, cũng không thể làm gì mà không có
chồng tôi”. Bà cũng là người rất quốc gia, và thái độ bướng bỉnh của bà
thường gây ra những phiền toái rắc rối. Trường hợp tồi tệ nhất là vào lúc cao
trào Phật giáo phản đối chính phủ Diệm. Cũng giống như những vụ khác, bà đã tố
cáo các tín đồ Phật giáo đã bị Việt Cộng xâm nhập và khi một vị sư từ Huế tự
thiêu để phản đối, bà đã nhận định rằng đó là các nhà
lãnh đạo Phật giáo đã “nướng” (barbecued) sư, và thêm nữa, đã lệ thuộc vào sự
giúp đỡ của ngoại quốc giống như xăng dầu được sử dụng cũng là nhập cảng.
Những lời bộc trực như vậy, trong khi được những người ủng
hộ bà hoan nghênh, nhưng là quá đáng đối với nhiều người và làm cho Hoa Kỳ
nhanh chóng mất sự kiên nhẫn với
chính phủ Diệm, họ đã coi Bà Nhu như một khẩu “cà nông thả lỏng”. Khi những
cuộc phản đối tiếp tục, bà đã gây nên một sự khuấy động khác khi nói, “Cứ để
cho họ đốt, chúng tôi sẽ vỗ tay”. Cuối cùng, người Mỹ quyết định loại bỏ chính
phủ Diệm và bí mật ủng hộ cuộc đảo chánh năm 1963 chống lại ông. Sau khi bị
truất quyền, Diệm đã bị ám sát cùng với người em tên Nhu. Bà Nhu, vào lúc đó, đang đi vòng quanh nước Mỹ để đọc diễn văn yểm trợ cho
cuộc chiến Việt Nam chống lại chủ nghĩa cộng sản…
Là một phụ nữ từng nổi tiếng và đầy uy quyền
trong một thời gian dài của lịch sử cận đại Việt Nam, những năm sau này, bà Ngô
Đình Nhu chỉ còn là hình ảnh
của một thời vang bóng. Tên tuổi của bà ít còn được báo chí, kể cả Việt Nam và
ngoại quốc, đề cập đến! Vừa qua, ngày 24-4-2011, mọi người đã được tin bà Ngô Đình Nhu đã từ trần tại Roma,
Ý Đại Lợi, hưởng thọ 87 tuổi. Cái chết của bà đã để lại không ít tiếc thương
cho những người thân, bạn bè và những người ái mộ bà! - (TN)