LTS: Nhận được tin Luật Sư Vương
Văn Bắc, cựu Ngoại Trưởng VNCH, vừa qua đời tại Paris, Pháp Quốc, sáng
20-6-2011, ông Võ Long Triều, cựu Tổng Trưởng Thanh Niên và Thể Thao
VNCH, cựu Dân Biểu VNCH, đã đưa cho nhật báo Viễn Đông một lá thư của
Luật Sư Vương Văn Bắc, từng đăng trong tạp chí Tiếng Gọi Dân Tộc do nhà
báo Võ Long Triều làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tại Paris hồi đầu thập niên
1990. Dù là một bài viết cách đây gần 2 thập niên, đề tài và những mối
ưu tư tác giả nêu ra vẫn còn rất hợp thời, hợp lẽ.
Nhà báo Võ Long Triều cho biết, lá thư nhan đề “Lứa tuổi sinh trưởng tại hải ngoại trách đàn anh”, LS. Vương Văn Bắc đã viết sau một buổi gặp gỡ, thảo luận tại nhà ông Triều ở Paris. Trong buổi gặp mặt đó, các vị Vũ Quốc Thúc, Trần Lê Quang, Vương Văn Bắc, Võ Long Triều đã cùng bàn thảo về hiện tình đất nước thời đó và những mối ưu tư về thế hệ thanh niên hải ngoại. Sau khi đăng tải trong Tiếng Gọi Dân Tộc, đến đầu năm 2009, LS. Vương Văn Bắc có đến Palo Alto, California, gặp lại nhà báo Võ Long Triều và cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình; ông Bắc đã trao lại bản sao lá thư nói trên cho ông Triều.
Nhật báo Viễn Đông xin trân trọng gửi đến quý độc giả toàn văn lá thư của LS. Vương Văn Bắc gửi đến cựu Dân Biểu Võ Long Triều, như một nén hương tưởng niệm một người nặng lòng vì đất nước vừa khuất bóng.
Paris, ngày 4-5-1993
Anh Triều,
Trong buổi họp mặt một số bạn cũ hồi cuối tháng 4, anh có đọc cho chúng tôi vài đọan trích trong những lời phát biểu của mấy bạn trẻ, đại lý chê trách thế hệ đi truớc họ – thế hệ chúng ta – đã vì quá cố chấp, khư khư ôm lấy những oán hận chống đối lỗi thời, thành thử cản bước thế hệ trẻ phục vụ đất nước. Chúng ta đã bàn luận nhiều về những lời phê phán ấy, để kết luận là sự ngộ nhận này cần được giải tỏa ngõ hầu duy trì niềm thông cảm giữa hai thế hệ dẫu sao cũng đồng hội đồng thuyền, vì cùng chung cảnh ngộ lưu vong và cùng muốn thấy một ngày mai sáng sủa trên quê nhà.
Hôm nay tôi xin được đóng góp vài lời tham luận vào cuộc đối thọai cần thiết ấy.
Trước hết, ta nên bàn thêm về hai chữ cố chấp.
Theo thiển ý, trung thành với những điều mà mình cho là phải, là đúng – hơn nữa, lại được thực tại lịch sử gần đây chứng nghiệm là phải, là đúng – không phải cố chấp mà chỉ là chung thủy, trước sau như một, là lương thiện với mình và với người. Chúng ta đã chống lại cộng sản vì nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản không phải là tương lai của loài người, rằng lồng cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc vào khuôn khổ cuộc đấu tranh vô sản quốc tế là một sự lựa chọn sai lầm và tai hại. Thời cuộc đã chứng minh rằng quan điểm ấy xác đáng, tại sao chúng ta lại phải giấu giếm chối bỏ như một tì tích xấu xa?
Có người cho rằng thái độ chống đối ấy lỗi thời vì cộng sản không còn là một thực tế đáng quan ngại nữa. Nói một cách cầu kỳ hơn, mâu thuẫn quốc cộng đã bị lịch sử vuợt qua rồi. Nhận định như thế, theo ý tôi, là quá hấp tấp và hời hợt, nếu không phải là cố tình chối bỏ một vấn đề khó chịu.
Quả thế, cộng sản không còn là một hiểm họa sinh tử đối với các cường quốc tây phương nữa, từ ngày Liên Bang Xô Viết tan rã. Do đó, các cường quốc ấy có thể chuyển sự chú ý của họ đến những vấn đề khác, chẳng hạn như giải quyết xung đột chủng tộc, phục hồi sinh họat kinh tế hay chia lại những phần thị trường. Trái lại, ở Việt Nam, cộng sản vẫn còn là một thực tại hiển hiện ở khắp nơi, khắp bậc: trong quốc hội, trong hiến pháp, luật lệ, ở mỗi ty sở, ở mỗi phường khóm. Chẳng lẽ phải nhắm mắt bưng tai trước sự thật ấy mới khỏi bị chê là cố chấp?
Các bạn trẻ đưa ra lời phê phán nên biết rằng chúng tôi không phải là những quái vật tiền sử, không quên điều gì và không học gì thêm, tự giam mình trong những thành kiến cũ mà không thấy ngọai vật đã đổi thay. Không, chúng ta không đến nỗi lạc hậu như vậy: chúng ta ý thức rằng không có sự chống đối nào là vĩnh cửu, không có thù hận nào còn muôn đời. Chúng ta biết rằng hiện thời, các phái đoàn Ả Rập đang gặp phái đoàn Do Thái ở Hoa Thịnh Đốn để tìm thỏa hiệp vụ Palestine, đại biểu Bắc Kinh và đại biểu Đài Bắc đang hội họp nhau ở Tân Gia Ba để thử san bằng cuộc tranh chấp Quốc-Cộng, lãnh tụ da đen và lãnh tụ da trắng đang thương nghị ở Johannesburg để tiến tới một quốc gia Nam Phi đa chủng đa nguyên. Rõ rệt xu hướng ưu thắng trên thế giới hiện nay là hòa giải. Nhưng không ai cổ súy một thứ hòa giải bừa bãi, vô nguyên tắc, lấy mỹ từ đoàn kết che đậy thực tế đầu hàng.
Chúng ta nghĩ rằng vì tương lai đất nước, phải có hòa giải thay vì loại trừ. Nhưng chúng ta cũng nghĩ rằng sự hòa giải ấy phải đặt trên cơ sở bình đẳng tự do, phải được tiến hành trong tinh thần tương nhượng và phải hướng về một mục đích duy nhất: một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ và công bằng, không có độc đảng độc quyền, không phân biệt đối xử theo những đường ranh ý thức hệ, kiểu phân biệt chính-ngụy. Chủ trương như vậy không phải là cố chấp mà chỉ là sáng suốt, trông xa để tránh những “thất bại” sau này.
Bây giờ, ta xét đếùn lời trách cản đường. Theo ý tôi, đây là một sự hiểu lầm khác cần được dẹp bỏ.
Thế hệ chúng ta không muốn là – mà cũng chẳng thể trở thành – những ụ đất ngăn cản bước đi của thanh niên trên đường về nước phục vụ, nếu đó là ý nguyện của họ. Chúng ta đã tranh đấu vì tự do và bỏ nước ra đi cũng vì tự do, lẽ nào chúng ta lại không tôn trọng quyền tự do của các bạn trẻ. Khi đã trưởng thành, mỗi người đều có quyền và có bổn phận quyết định về đường đi của mình, theo lương tâm và tri thức của mình.
Tuy nhiên, không cấm cản chẳng có nghĩa là thờ ơ bỏ mặc. Chúng ta không thể không tha thiết đến tương tai, đến sự thành bại của những người trẻ, dẫu sao cũng phần nào do sự chọn lựa của chúng ta mà phải sanh sống ở ngoài quê hương.
Bởi vậy, dựa trên chút vốn kinh nghiệm và suy tư còn lại, chúng ta gửi đếùn thế hệ trẻ một vài lời khuyên chân thành, dưới hình thức mấy câu hỏi mà họ nên giải đáp rõ ràng trước khi dấn thân.
Có thể nào đổi mới kinh tế mà không cần đổi mới chính trị hay không?
Hoạt động kinh tế không tách rời khỏi toàn khối sinh hoạt cộng đồng. Cơ chế kinh tế thị trường không phải là cây đũa thần, có thể tạo phép lạ trong bất cứ môi trường chính trị nào. Điều này dễ hiểu vì Nhà Nước là tác nhân quan trọng nhất trong sinh hoạt kinh tế. Từ quyền sở hữu đất đai đến giấy phép xây cất, giấy phép nhập khẩu, tín dụng, thuế khóa, thâu lợi, chuyển tiền... họat động kinh tế luôn luôn đặt dưới sự chi phối của quyền lực nhà nước. Như vậy làm sao có được kinh tế tự do nếu có chính quyền độc tài thư lại?
Hơn nữa, nếu thiếu một chính quyền thật sự do dân mà có và vì dân mà làm, có gì đảm bảo chỉ có những dự án đầu tư lâu dài, đúng đắn, đem lại thịnh vượng bền vững và kỹ thuật hiện đại cho đất nước sẽ được chấp nhận, chứ không phải là những dự án ăn xổi ở thì, nhằm lợi dụng tài nguyên thiên nhiên và nhân công rẻ rúng ở Việt Nam để thu doanh lợi thật nhanh thật nhiều – lợi cho người cho phép, lợi cho người được phép, nhưng không lợi cho người dân – Nếu tình trạng ấy xảy ra, Việt Nam sẽ có cớ biến thành một miền xơ xác, một tai họa môi sinh, như nhiều miền ở Đông Âu hay ở Nga hiện nay.
Có người nhắc đến trường hợp Trung Quốc để kết luận rằng đổi mới kinh tế có thể tiến hành trong khung cảnh chính quyền độc tài. Chúng ta không muốn tin rằng những người có nhận định ấy lại muốn nhân dân Việt Nam trải qua một cuộc đàn áp Thiên An Môn thứ hai. Dầu gạt ra ngoài yếu tố chính trị với trường hợp Trung Quốc vì có nhiều điểm khác nhau. Chỉ cần kể ở đây hai điều khác biệt:
- Bắc Kinh dám dựa nhiều vào khối Hoa kiều đông đảo và trù phú ở Mỹ Châu, Âu Châu và Á Châu, khối này đã đầu tư hàng chục tỷ Mỹ kim vào Trung Hoa lục địa (phần lớn từ Hong Kong và Đài Loan) và đã trở thành dây chuyền cần thiết giữa kinh tế Hoa Lục và kinh tế thế giới. Trái lại Hà Nội chưa dám tin tưởng khối Việt kiều bên ngoài, chỉ trông chờ ở doanh nhân và doanh nghiệp ngọai quốc.
- Bắc Kinh dám nhìn nhận quyền tự trị rộng rãi cho các địa phương, chẳng hạn như vùng duyên hải Hoa Nam, đảo Hải Nam hay tỉnh Tứ Xuyên, để giảm bớt hiệu lực kìm hãm của chính quyền trung ương. Trái lại, Hà Nội không nới lỏng sự kiểm soát của trung ương trên những địa phương như Miền Nam, hay Tây Nguyên, hay thượng du Bắc Việt.
Những điểm khác biệt ấy khiến cho sự so sánh không còn giá trị chứng nghiệm. Câu hỏi vẫn còn nguyên vẹn: với chính quyền hiện thời ở Việt Nam, một chính quyền độc tài, độc đảng, liệu có thể có được phát triển kinh tế khả dĩ mang lại lợi ích thật sự cho người dân không?
Một câu hỏi, còn quan trọng hơn câu nói trên đây, là: Có thể nào có hòa giải thật sự nếu một bên nhất định giữ thái độ độc tôn, trong tư tưởng cũng như trong hành động?
Chừng nào chưa xóa bỏ, trong tư tưởng cũng như trong đời sống, sự phân biệt phi lý và miệt thị giữa những người “ yêu nước” (chỉ người cộng sản và thân cộng sản) và những thành phần “ngụy” theo thực dân đế quốc, để xác định rằng đã có những đường lối yêu nước khác nhau; chừng nào chưa xóa bỏ vai trò chỉ đạo của một ý thức hệ, của một đảng phái, để nhìn nhận quyền tham gia của mọi công dân, mọi chính đảng trên lập cước bình đẳng vào đời sống cộng đồng; chừng nào những quyền tự do cơ bản của con ngươiø và của công dân chưa được long trọng thừa nhận và nghiêm chỉnh thi hành đối với mọi người; chừng nào những lực lượng đàn áp, những trại giam, những trại cải tạo còn đe dọa những người đối lập với chính quyền tại vị... thì chừng ấy, viễn tưởng “hòa giải” vẫn chỉ là bánh vẽ trong sách hay mặt trăng trên trời.
Thân chào.
Vương Văn Bắc
(Đăng trên “Tiếng Gọi Dân Tộc”)