Một cuộc phỏng vấn Mario Vargas
Llosa: Người thắng giải Nobel Văn Chương 2010 mô tả về công
tác nhân danh tự do cá nhân vào năm 2007.
Emily Parker thực hiện
(đăng trên tờ Wall Street Journal ngày 23-6-2007)
Văn Điệp/ ViễnĐông chuyển ngữ

Văn hào Mario Vargas Llosa ở Pietrasanta, Toskana, ngày 12-6-2010 – ảnh: Daniele Devoti (Padova, Ý)/Wikipedia.
Lima, Peru – “Đây là một câu chuyện
hay lập đi lập lại,” Mario Vargas Llosa nói. “Nếu người cha là một thương gia,
ông là một người đàn ông có dan díu với thể chế độc tài. Đó là cách duy nhất để
làm giàu, phải không? Và rồi người con trai phát giác ra, người con trai còn
trẻ, giàu nhiệt huyết, có lý tưởng, tin tưởng vào công lý và tự do, và anh khám
phá ra người cha xấu xa đang phục vụ cho một thể chế độc tài ám sát, cầm tù,
kiểm duyệt và tham nhũng đến tận xương tủy.”
Ông Vargas Llosa có thể rút ra nguyên
hoàn cảnh trên từ những ký ức riêng tư sống dưới chế độ độc tài ở Peru. Nhưng
ông kể câu chuyện này để nhấn mạnh một quan điểm phổ quát: Những chế độ độc tài
đầu độc mọi thứ trong tầm tay, từ các cơ chế chính trị xuống tới quan hệ giữa
cha con.
Khi tôi gặp ông Vargas Llosa tại
nhà của ông ở Lima, tôi không mấy ngạc nhiên khi được biết tiểu thuyết gia nổi tiếng thế giới này, bản chất là một
người kể chuyện có tài. Ông trò chuyện với tôi bằng tiếng Tây Ban Nha, tay nắm
lấy cặp kính gọng đen và thỉnh thoảng hươ hươ nó để nhấn mạnh điều gì.
Những ý tưởng mạnh bạo và ngôn ngữ
diễn cảm của ông Vargas Llosa có thể đã làm cho ông trở nên một trong những nhà
văn châu Mỹ La-tinh hay nhất – “Dì Julia và Cái Máy Viết Chữ,” “Thời Khắc của
Người Anh Hùng” và “Cuộc Đàm Thoại trong Nhà Thờ Chính Tòa” là một vài tác phẩm
kinh điển của ông – nhưng chính những yếu tố đó lại không nhất thiết giúp ông được
nhiều tại các phòng phiếu. Sau khi tranh cử tổng thống Peru năm 1990 và thua
Alberto Fujimori, ông Vargas Llosa quyết định tập trung hoàn toàn vào công việc
sáng tác. Hiện nay ông sống ở Lima khoảng ba tháng trong năm, và thời gian còn
lại ở Âu Châu.
“Tôi sẽ không tham dự chính trị
chuyên nghiệp nữa,” ông nói. Và ông cũng không cần thiết làm điều đó. Ông
Vargas Llosa đã tìm ra một phương thức hữu hiệu để phanh phui bản chất phá hoại
của những chế độ độc tài, trong khi vạch ra tầm quan trọng của tự do cá nhân và
ý chí tự do.
Ông chỉ việc nhấc bút lên. “Con chữ
là hành động,” ông nói, thấp thoáng ý tưởng của Jean-Paul Sartre. “Dùng ngòi
bút, người ta có thể thay đổi lịch sử.”
Trong dịp tranh cử tổng thống năm
1990, ông Vargas Llosa nhấn mạnh đến nhu cầu có một nền kinh tế thị trường, tư
hữu hóa, tự do mậu dịch, và trên hết, phổ biến tư tưởng về tài sản tư hữu. Ông
không nhận được sự đón tiếp nồng hậu cho lắm. “Thời ấy rất khác, vì nói đến tài
sản tư hữu, doanh nghiệp tư hữu, thị trường – toàn là những điều cấm kỵ,” ông
nói. “Tôi khá là đơn độc trong cuộc vận động đó,” ông nói tiếp, “bởi vì tôi
không nói dối. Tôi nói đúng những gì chúng tôi sắp sửa thực hiện. Đó cũng là
vấn đề đạo đức và cũng vì... tôi nghĩ rằng không cách chi thực hiện được những
cải tổ tự do, tận gốc rễ, nếu không có sự ủy thác quyền lực để làm việc ấy.”
Còn bây giờ, gần 20 năm sau, tình
hình đã khác đi rất nhiều. Ông Vargas Llosa giải thích rằng ông bị đẩy vào
chính trị khi tổng thống đương nhiệm lúc đó Alan Garcia, một người theo chủ
nghĩa xã hội và một nhà chính trị chạy theo dân chúng, có ý định quốc hữu hóa
ngân hàng. Ngày nay, ông đang điều hành đất nước một lần nữa, nhưng “bây giờ,
cũng ông Alan Garcia đó, lại là một người cổ võ cho tư bản chủ nghĩa ở Peru!”
Ông Vargas Llosa cười vui vẻ. "Buồn cười không?"
Ông xem ra tương đối lạc quan về
châu Mỹ La-tinh ngày nay: “Tôi không đến nỗi bi quan như những người khác, vốn
cho rằng châu Mỹ La-tinh đã trở lại thời kỳ của chính trị hùa theo dân chúng,
khuynh tả.” Khu vực này có những nan đề của nó, chắc chắn vậy, một trong những
nan đề lớn đến từ Caracas với sự cai trị của tổng thống Venezuela Hugo Chavez.
Nhưng theo ông Vargas Llosa, có lẽ điều đáng nói nhất là những gì ông Chavez
không thể thực hiện được.
“Chúng tôi có vấn đề lớn với
Chavez,” ông Vargas Llosa thừa nhận. “Ông ta là một nhà ngụy biện lôi kéo được
dân chúng và là một người theo xã hội chủ nghĩa của thế kỷ thứ 19. Ông ta là
một thế lực làm mất ổn định cho nền dân chủ ở châu Mỹ La-tinh, nhưng điều ông
ta tưởng rằng dễ làm thực ra không đến dễ dàng cho lắm. Đã có nhiều sự cưỡng
lại.”
Một trong những lỗi lầm của ông
Chavez là việc ông ta từ chối tái cấp phép cho chương trình truyền thông được
nhiều người theo dõi, Radio Caracas Television, hay RCTV, hồi tháng trước. “Sự
phẫn nộ của thế giới quả là to lớn,” ông Vargas Llosa ghi nhận. “Đối với tôi,
quan trọng nhất là những cuộc biểu tình rất mạnh mẽ ở Venezuela, đặc biệt là
trong những thành phần trước đây từng đồng thuận với ông ta, thí dụ như sinh
viên ở đại học Central University of Venezuela, chứ không chỉ những sinh viên
trong các đại học tư thục.”
Tại những nơi như châu Mỹ La-tinh,
chính những việc vi phạm quyền tự do ngôn luận làm sáng lên lý do tại sao đọc
một cuốn tiểu thuyết hay không chỉ đơn thuần là cách để giải khuây một buổi
chiều. “Thiết nghĩ, ở những quốc gia mà những nan đề căn bản chưa được giải
quyết xong, nơi mà xã hội vẫn còn hằn sâu những nếp xung khắc – như ở châu Mỹ
La-tinh hay ở những nước thuộc thế giới thứ ba nói chung – cuốn tiểu thuyết
không chỉ là một hình thức giải trí, mà nó còn thay thế được cho một thứ mà các
xã hội này không quen được thấy – chẳng hạn như, tin tức,” ông Vargas Llosa
nói. “Nếu quý vị sống trong một đất nước không có gì tương đương với sự thông
tin tự do, thông thường văn chương trở thành cách duy nhất để ít nhiều thông
tin về những gì đang xảy ra.”
Văn chương có thể là một hình thức
chống trả lại, có lẽ là hình thức duy nhất để biểu tỏ nỗi niềm bực dọc khi các đảng
phái chính trị vắng bóng.
Tất cả những điều này có vẻ đúng như
thế, nhưng trong một chế độ độc tài, chẳng lẽ văn chương không bị kiểm duyệt
hay sao? “Trong những quốc gia chưa phát triển, hệ thống kiểm duyệt chưa đến
mức tinh tế như thế, như ở Tây Ban Nha chẳng hạn,” ông Vargas Llosa giải thích.
“Bởi vì ở những nước chưa phát triển, các nhà độc tài, vâng, là những kẻ không
biết chữ đúng mục đích, và không cho rằng văn chương có thể trở nên nguy hiểm.”
Một thí dụ, cuốn tiểu thuyết đầu
tay của ông Vargas Llosa, “Thời Khắc của Người Anh Hùng,” về cuộc sống trong
một quân trường ở Lima, đã bị đem ra đốt trước công chúng ở Peru bởi một nhà độc
tài quân sự trong thập niên 1960. Nhưng nhà cầm quyền dường như không cho rằng
cuốn sách là một nguy cơ chính trị để cấm triệt nó, và rốt cuộc thì ông Vargas
Llosa là người hưởng lợi từ việc đốt sách công khai. “Nó trở thành một cuốn
sách bán chạy nhất!” Ông thốt lên, cười vang.
Trải dài theo những tác phẩm của
ông Vargas Llosa, có một dòng suy nghĩ khác cũng gợi sự trăn trở nhưng ít khi được
thảo luận hơn – đó là, sự bạc đãi đối với phụ nữ, từ việc coi thường cho đến
bạo lực hẳn hòi. Những hình thức xâm phạm này đặc biệt ghê rợn trong cuốn tiểu
thuyết “Bữa Đại Tiệc của Con Dê,” dựa trên cuộc đời của Rafael Trujillo, nhà độc
tài từng làm kinh hoàng xứ Dominican Republic từ năm 1930 đến 1961. Ông Vargas
Llosa mô tả chuyến du hành đến Dominican Republic và ngạc nhiên khi nghe kể câu
chuyện của những người nông dân đem hiến tặng con gái của họ làm “quà” cho tên độc
tài dâm dục này. Ông kể, Trujillo và các con trai của ông ta có thể ngược đãi
bất cứ phụ nữ từ bất cứ giai tầng xã hội nào mà không hề bị truy tố. Tình hình
ở Dominican Republic, mà ông gọi là “một phòng thí nghiệm của những điều khủng
khiếp,” có thể hơi quá đáng, nhưng nó vạch ra một dòng hiện tượng lớn hơn: “Người
phụ nữ gần như lúc nào cũng là nạn nhân đầu tiên trong thể chế độc tài.”
Ông Vargas Llosa khám phá ra rằng
hiện tượng đó không chỉ có mặt ở châu Mỹ La-tinh. “Tôi đến Iraq sau cuộc xâm
chiếm,” ông nói với tôi. “Khi tôi nghe những câu chuyện về những người con trai
của Saddam Hussein, tôi cứ tưởng như mình đang ở Dominican Republic, đang nghe
câu chuyện về các con trai của Trujillo! Phụ nữ đang đi trên đường phố có thể
bị bắt lên xe mang đi, và được trình lên đơn giản như những món hàng... Hiện tượng
này rất giống nhau, ngay cả với những nền văn hóa và tôn giáo thật khác biệt.”
Ông kết luận: “Sự tàn nhẫn có cùng một hình thức dưới các chế độ độc tài.”
Phải chăng ông Vargas Llosa ủng hộ
việc tiến chiếm Iraq? “Tôi chống đối việc đó ngay từ đầu,” ông nói. Nhưng sau đó
ông đến Iraq và nghe những câu chuyện về cuộc sống dưới thời Saddam Hussein.
“Bởi vì có quá nhiều sự chống đối cuộc chiến này, ngay lập tức người ta quên đi
rằng đây là một trong những chế độ độc tài quỷ quyệt nhất nhân loại được chứng
kiến, có thể so sánh với Hitler, hay Stalin.” Ông thay đổi ý kiến về cuộc xâm
chiếm: “Iraq không có Saddam Hussein sẽ tốt hơn là có Saddam Hussein. Không
nghi ngờ gì nữa.”
Sự thù ghét chế độ độc tài nói
chung khắc sâu trong tâm khảm của ông Vargas Llosa một phần nào đó đến từ kinh
nghiệm sống cá nhân, lớn lên trong thập niên 1950 ở Peru dưới chế độ độc tài
của Manuel Odria. “Tất cả các đảng phái chính trị bị cấm đoán, truyền thông báo
chí, truyền thanh bị kiểm duyệt khắt khe,” ông giải thích. “Ở đại học, nhiều giáo sư phải sống lưu vong và nhiều
sinh viên trở thành tù nhân... trong bầu không khí đó, một đứa con trai thế hệ
tôi bước vào tuổi trưởng thành.”
Giai đoạn này là bối cảnh cho “Cuộc
Đàm Thoại trong Nhà Thờ Chính Tòa,” một tác phẩm mà ông Vargas Llosa cho biết
ông đã cứu nó khỏi bị thiêu rụi. Bộ tiểu thuyết bốn cuốn sắc sảo này hiếm khi
nhắc đến Odria một cách trực tiếp, mà chú trọng vào những quan hệ giữa những thường
dân Peru ở mọi giai tầng trong xã hội. Với lối văn không bóng bẩy, ông Vargas
Llosa lập tức xô bạn đọc vào ngay giữa một đất nước không còn hy vọng. “Đó là
một cuốn tiểu thuyết mà tôi muốn cho thấy những gì tôi đã trải qua trong những
năm ấy, những năm mà chế độ độc tài không chỉ hạn chế trong việc kiểm duyệt hay
cấm đoán trong đời sống chính trị, không chỉ vậy!” Ông Vargas Llsa nói với tôi.
“Chế độ độc tài tạo ra một hệ thống toàn trị trong mọi sinh hoạt đời sống.”
Và nơi đó ẩn náu sức mạnh của những
tác phẩm Vargas Llosa: Ông tìm ra được rằng sự chuyên chế đè nặng lên những nơi
mà chúng ta chưa hề nghĩ tới. Còn về giá trị của tự do, có lẽ ông đã nói rõ
nhất trong cuốn “Bữa Đại Tiệc của Con Dê”: “Đã chứ. Tách cà phê hay ly rượu rum
của bạn hẳn phải có vị ngon hơn, khói thuốc xì-gà của bạn, một buổi bơi lội
trên đại dương ngày nắng nóng, phim truyện bạn xem ngày thứ Bảy, vũ điệu
merengue trên đài phát thanh, mọi thứ hẳn phải để lại trên thân thể và tâm hồn
bạn một cảm giác dễ chịu hơn khi bạn có được những gì Trujillo đã lấy đi của
những người Dominican 31 năm về trước: ý chí tự do.”
Chúng tôi bắt đầu kết thúc cuộc
phỏng vấn. Chúng tôi uống rượu vang đỏ. Căn phòng gần nơi chúng tôi ngồi là thư
viện riêng của ông Vargas Llosa – tôi nhận thấy có vài cuốn sách gáy bọc da.
Ông cho tôi biết có hơn 18.000 cuốn sách trong thư viện này. Bộ sưu tập của ông
rõ ràng làm ông tự hào, nhưng đó cũng là một biểu hiện thiết thực cho niềm tin
của ông về sức mạnh của chữ nghĩa. Hay như ông nói: “Tôi nghĩ văn chương có ảnh
hưởng quan trọng trong việc tạo nên những công dân tự do, độc lập, biết phê
phán, và không bị lừa lọc, lôi kéo.”
Tác giả Parker từng là một phụ tá
biên tập viên cho tờ The Wall Street Journal.