Bạn thích bài này?
Font-Size:
Mong một ngày về
(VienDongDaily.Com - 18/04/2011)
Họ rất mong một ngày không còn cộng sản cai trị nữa, không còn cờ đỏ sao vàng, không còn hình ảnh và tên HCM lảng vảng khắp nơi, để ...
Nguyễn Thanh Liêm

Một ít người thuộc thế hệ bảy mươi hơn, đã rời khỏi Việt Nam từ 1975, cho đến nay vẫn chưa trở về quê hương một lần nào.


Họ rất mong một ngày không còn cộng sản cai trị nữa, không còn cờ đỏ sao vàng, không còn hình ảnh và tên HCM lảng vảng khắp nơi, để họ được về thăm lại quê hương tự do xưa kia của họ. Họ mong đợi đã lâu, và cứ thỉnh thoảng lại nghe như cơ hội đã sắp đến rồi, làm cho niềm hy vọng của họ lại được dịp loé lên mạnh mẽ, họ thấy phấn chấn thêm.
Nhưng rồi cơ hội không đến, nhà cầm quyền vẫn còn là cộng sản, độc tài hơn, sắt máu hơn, có vẻ như không có gì lay chuyển nổi. Sự tan rã của Liên Bang Sô Viết tiếp theo sau sự sụp đổ của Cộng Sản Nga, những chuyển đổi từ chế độ cộng sản sang dân chủ tự do của các nước Đông Âu, không làm lung lay chế độ cộng sản Bắc Kinh và Hà Nội. Hết hy vọng, họ bắt đầu thất vọng.
Nhưng gần đây ánh sang ở cuối đường hầm lại loé lên. Đột nhiên nghe thấy chuyện Mỹ trở lại. Mỹ trở lại Á Đông, có mặt ở Biển Đông, và trên hết là rất có thể trở lại Việt Nam. Một ít người hy vọng sẽ có những biến đổi thuận lợi cho chính trị dân chủ ở nước nhà. Hy vọng càng lên cao khi có cuộc cách mạng Hoa Lài xảy ra ở Bắc Phi và Trung Đông. Họ mong một cuộc nổi dậy tương tự của người dân Việt Nam chống lại bạo quyền cộng sản như người dân Tunisia, Ai Cập, Lybia, v. v., nổi dậy lật đổ nhà cầm quyền đôc tài của xứ họ. Nhưng đến giờ phút này chưa có một cuộc nổi dậy nào có tầm mức có thể xoá bỏ chế độ hiện hữu. Mặc dầu người Việt ở hải ngoại vẫn có nhận được những tin tức về những dấu hiệu cho thấy có các cuộc nổi dậy nơi này hay nơi khác ở trong nước, cũng như những lời kêu gọi đồng bào hãy mạnh dạn đứng lên lật đổ bạo quyền, cùng lúc với các cuộc biểu tình của người Việt hải ngọai do các hội đoàn, đoàn thể chính trị, các tổ chức cộng đồng nhiều nơi trên thế giới đứng ra tổ chức rầm rộ để yểm trợ cho các phong trào tranh đấu cho tự do, nhân quyền ở quốc nội. Trong không khí sục sôi đó người ta có cảm nghĩ như giờ phút cuối cùng của chế độ cộng sản nơi quê nhà đã điểm. Ngày về mong mỏi từ lâu chắc sẽ đến nay mai.
Dĩ nhiên là ngày đó sẽ đến. Chế độ cộng sản sẽ không thể nào tồn tại mãi. chế độ đó sẽ phải chấm dứt. Vấn đề là bao giờ nó chấm dứt, và chấm dứt bằng cách nào? Có những chế độ công sản còn tồn tại đến giờ này sau khi Cộng Sản Nga sụp đổ, như cộng sản Việt Nam, cộng sản Trung Hoa, cộng sản Bắc Hàn, cộng sản Cuba, nhưng tồn tại đến giờ này không có nghĩa là sẽ tồn tại mãi mãi, vả lại muốn tồn tại đến giờ này nó cũng đã phải ít nhiều thay đổi chớ không còn giữ nguyên vẹn hình thái cộng sản buổi ban đầu.
Hãy nói riêng về trường hợp của cộng sản Việt Nam. Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ được chấm dứt cách nào? Bằng một cuộc nổi dậy của toàn dân để lật đổ nó, bằng một cuộc đảo chánh do một cánh nào đó trong Đảng đứng ra làm, hay bằng những biến đổi dần theo hoàn cảnh và thời gian? Bao giờ thì sự sụp đổ của chế độ CS sẽ xảy ra?  
Chừng nào toàn dân Việt Nam sẽ nổi dậy để lật đổ chế độ hiện hữu? Phần đông người Việt hải ngoại đều tin rằng muốn lật đổ chế độ cộng sản hiện nay thì phải trông cậy vào công cuộc nổi dậy của người dân trong nước chớ không phải người Việt hải ngoại hay bàn tay ngoại quốc nào chen vào làm thế cho người Việt Nam. Ý nghĩ đó rất đúng. Vai trò chính trong công cuộc nổi dậy là của người dân trong nước. Vấn đề là người dân của chúng ta có đủ trang bị để nhận lấy vai trò đó không? Chúng ta nói rằng điều kiện xã hội, chính trị, của Việt Nam hiện giờ đã chín mùi cho một cuộc cách mạng như cách mạng hoa lài ở Bắc Phi. Bằng chứng là nhà cầm quyền độc tài, tham nhũng, lệ thuộc cộng sản Trung Quốc, bán nước cho Trung Cộng, dân chúng nghèo đói khổ sở lầm than, xã hội bất công, học sinh bỏ học, người đi học xong không có việc làm, tôn giáo bị đàn áp, nhân quyền bị tước đoạt, mọi quyền hành, tài sản đều thuộc đảng viên đảng Cộng Sản từ cao xuống thấp. Điều kiện chính trị, xã hội xấu xa nói trên có thật và những tin tức báo chí, internet, có cho chúng ta thấy như vậy. Nhưng bên cạnh bộ mặt thật xấu xa tệ hại đó cũng có bối cảnh khác hơn có lợi cho một số không nhỏ những người khác. Những người kiếm ăn được, hoặc có đời sống tiện nghi, cũng không phải là ít. Những người ở thành thị, có xe gắn máy, có căn hộ để ở, có công việc làm ăn, cùng với những kẻ trưởng giả mới, những tiểu thương, những đại gia, những cán bộ nhà nước, v. v., tạo thành một xã hội không cần cách mạng hoa lài. Những người như thế nếu không chống lại cách mạng hoa lài thì cũng là những người thờ ơ với công cuộc nổi dậy chống đối nhà cầm quyền.
Chỉ những người thật sự không thể nào sống được, bị xô đẩy vào con đường cùng, hoặc những người có ý thức về sự sai lầm tệ hại của chế độ cộng sản độc tài thì mới dễ nổi loạn. Nhưng chỉ sự khốn khổ của người dân không thôi cũng chưa đủ, họ còn phải có ý thức về quyền làm người, về quyền sống của con người, về quyền đòi hỏi nhà cầm quyền phải làm việc cho dân, họ phải được trang bị bằng tinh thần ngẩng đầu lên mạnh dạn đứng lên đòi hỏi, mạnh dạn đương đầu với những đàn áp có khi rất tàn bạo của công an, cảnh sát, hay cả quân đội nữa. Lớp người tiên phong trong cuộc nổi dậy phần nhiều là lớp sinh viên, thanh niên ở các đô thị và thành phố lớn. Họ có ý thức, có phương tiện truyền thông, dễ dàng thông tin liên lạc với nhau. Những công cuộc nổi dậy lớn lao không tránh khỏi đổ máu, chết chóc. Họ phải được trang bị với tinh thần có thể phải sẵn sàng hy sinh cả tính mệnh trong sự nổi dậy.
Hãy nhìn kỹ vào xã hội mình hiện nay xem mình có thể có được bao nhiêu người dân, người trí thức, sinh viên, có đủ điều kiện để mạnh dạn đứng lên làm cách mạng? Nếu chỉ có một con số nhỏ thì sẽ dễ dàng làm mồi cho công an, cảnh sát. Mà nhà nước cộng sản thì có số công an cảnh sát thật đông, thật ác, chưa kể một số người thuộc xã hội đen của nhà cầm quyền tổ chức. Hệ thống kiểm soát người dân của cộng sản rất chặt chẽ. Hệ thống đó theo dõi kiểm soát từng hành vi, từng hoạt động của người dân. Nhìn kỹ chúng ta thấy khó có thể có một công cuộc nổi dậy của nhân dân trong thời gian gần dù có những động lực thúc giục từ bên trong hay bên ngoài, ngoại trừ trường hợp có một sự xúi giục của  chính công an cảnh sát, hay quân đội từ phía nhà cầm quyền (trong một cuộc đảo chánh chẳng hạn).
Có thể có một cuộc đảo chánh không? Cũng có thể bởi chuyện gì cũng có thể xảy ra trên đời này. Nhưng khó tiên đoán, khó biết trước, bằng những suy luận thông thường, bởi chưa có sự kiện đảo chánh xảy ra trong các xứ cộng sản. Có bất đồng ý kiến, có khác biệt trong đường lối lãnh đạo, có xung đột nội bộ, nhưng hầu hết đều được giải quyết kín đáo, không công khai, không để thiên hạ bên ngoài biết được. Thanh toán nhau, giết hại lẫn nhau một cách bí mật vẫn có xảy ra, và người bên ngoài thỉnh thoảng cũng được nghe nói đến do chính những người bên trong xì ra. Một số những nhân vật quan trọng của chế độ đã tiết lộ những thanh toán nhau bằng thuốc độc, bằng tai nạn lưu thông chẳng hạn. Có điều là việc đó có thật sự xảy ra đúng như vậy hay không thì thật là khó nói bởi tính cách bí mật, dấu kín của sự việc. Nhưng một cuộc đảo chánh bằng một lực lượng quân sự tương tự như những cuộc  đảo chánh thời Đệ Nhất Cộng Hoà ở Miền Nam tự do trước kia thì rất khó xảy ra dưới chế độ cộng sản. Do vậy mà có lẽ chúng ta càng đặt ít hy vọng vào một cuộc đảo chánh càng tốt.
Nếu chưa có cuộc nổi dậy của người dân, nếu chưa có một cuộc đảo chánh đúng nghĩa thì cộng sản có thay đổi gì không? Đối với các nhà nghiên cứu Tây phương thì Cộng Sản có thay đổi nhưng đó chỉ là những thay đổi nhỏ để thích nghi với tình thế mới, để không bị sụp đổ, chớ không thay đổi lớn lao theo chiều hướng mong mõi của nhiều người. Cộng Sản Tàu và Việt Nam chỉ có những thay đổi nhỏ, đúng ra là những điều chỉnh để thích nghi với tình thế mới, chớ không bao giờ thay đổi để trỡ thành một nước dân chủ đa nguyên, có tinh thần nhân bản tự do, như các nước tự do trên thế giới. Cộng Sản Tàu nghiên cứu rất kỷ nguyên nhân của sự sụp đổ của Cộng Sản ở Nga và Đông Âu để rút tỉa những bài học cho cộng sản Trung Quốc để tránh những sai lầm mà các nước nói trên đã vấp phải. Có hai loại sai lầm lớn ở hai thái cực: loại Một gồm có sự tôn thờ cá nhân, sự độc tài cá nhân, sự xơ cứng của chủ nghĩa (của Stalin), và loại Hai gồm sự mở rộng cửa, sự đón nhận đa nguyên đa đảng, sự giảm nhẹ vai trò của đảng Cộng Sản (như Gorbachev), cả hai thái cực đều không có lợi cho sự trường tồn của Đảng Cộng Sản. Cần có những thay đổi trong chánh sách kinh tế để phát triển, để không bị sụp đổ. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều đổi mới kinh tế, trong thập niên 1980, chuyển từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường, nhưng không thay đổi trong lãnh vực chính trị. Bộ mặt của các thành phố lớn, building, đường sá, cầu cống, nhà hàng, khách sạn, shopping center, v.v., thay đổi nhiều, có vẻ văn minh không kém những thành phố lớn thế giới. Người ta di chuyển, mua sắm, ăn chơi, tự do khác hẳn những năm cuối thập niên 1970. Có điều chỉnh lề lối sinh hoạt của Đảng, củng cố nhân sự, nhưng trên căn bản Đảng Cộng Sản vẫn giữ vững vai trò độc quyền lãnh đạo không chấp nhận đảng nào khác, để đừng có cạnh tranh, Đảng Cộng Sản phải nắm hết các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, không tách rời đảng cộng sản ra khỏi bộ máy cầm quyền. Đảng chỉ huy nhưng mà tập thể chỉ huy chớ không phải cá nhân. Cộng Sản Trung Quốc cũng như Việt Nam đều tránh cá nhân chỉ huy. Đảng độc tài nhưng đảng là tập thể chớ không phải cá nhân. Muốn có phát triển đều đặn thì phải có ổn định, phải có an ninh, và Cộng Sản chú trọng rất nhiều vào việc kiểm soát chặt chẽ mọi sinh hoạt của người dân bằng một hệ thống công an, cảnh sát, an ninh dày đặc. Ngoài hệ thống an ninh nhà cầm quyền cộng sản còn đoàn ngũ hoá mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các đoàn thể phụ nữ, thanh thiếu niên, văn nghệ sĩ, báo chí truyền thông, các nghề nghiệp, v.v., để theo dõi, kiểm soát mọi hành vi, mọi hoạt động của con người. Tôn giáo được quốc doanh hoá để nhà nước dễ dàng kiểm soát. Cộng Sản cũng rất chú trọng vào hệ thống thông tin tuyên truyền. Phải làm sao để bưng bít mọi tin tức có tính cách tiêu cực đối với chế độ dù đó là sự thật, phải tung ra được một cách rộng rãi những tin tức có lợi cho chế độ, cần phổ biến sâu rộng những hình ảnh, những câu chuyện, những ý tưởng tích cực, làm đẹp cho chế độ. Bắt buộc phải học tập đường lối, chính sách của Đảng, tôn sùng thần tượng cộng sản, học tập tư tưởng HCM. Giáo dục nhồi sọ, một chiều, không suy tư, không phản biện, không cho cơ hội nhìn thấy, học hỏi những gì khác hơn những điều Cộng Sản muốn người dân biết. Luôn luôn đề cao tính ưu việt của Đảng Cộng Sản, và công lao vĩ đại của Đảng này trong vai trò lãnh đạo hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Tóm lại cho đến giờ phút này Việt Nam có thay đổi nhưng đó chỉ là những thay đổi nhỏ, cần có để kéo dài sự tồn tại của Đảng Cộng Sản chớ không có những thay đổi cho có dân chủ, tự do, nhân bản, tiến bộ như phần đông người dân Việt mong muốn. Tuy nhiên, theo một ít chính trị gia thì về lâu về dài, những thay đổi nhỏ này sẽ tích lũy để đưa đến những thay đổi quan trọng hơn khi có cơ hội thuận tiện. Và theo họ những cơ hội thuận tiện đó Hoa Kỳ và người Việt hải ngoại có thể tạo ra được bằng cách đem văn hoá nhân bản tự do đến thế hệ trẻ Việt Nam để một ngày kia khi thế hệ đó vào đời, nắm những địa vị then chốt trong xã hội họ sẽ thay đổi chế độ nhiều hơn theo chiều hướng thuận lợi. Chánh quyền Mỹ có thể tạo nhiều cơ hội cho các cán bộ Việt Nam đi tu nghiệp, học hỏi nền văn minh Mỹ. Chánh phủ Mỹ có thể cho nhiều học bổng cho sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ. Chánh phủ Mỹ có thể viện trợ giáo dục cho các trường đại học Việt Nam. Chánh phủ Mỹ có thể gây áp lực trên chánh phủ Việt Nam về nhân quyền, về tự do tôn giáo, về các sinh hoạt văn hoá. Nếu mỗi người Việt hải ngoại khi đi về thăm quê hương, khi gởi tiền về cho bà con, khi có dịp hàn huyên với thân nhân bạn bè ở Việt Nam, có thể nói một vài nét đặc biệt về xã hội dân chủ, tự do đem lại cuộc sống thoải mái cho con người như thế nào. Chỉ nói thật thôi, không cần phải tuyên truyền, chỉ nói quyền của con người ở đây, quyền bầu cử, quyền tự do ăn nói, quyền tự do tín ngưỡng, quyền được hưởng giáo dục, cơ hội đồng đều, quyền lợi y tế, xã hội, v.v., để người dân trong nước, nhất là các thế hệ trẻ ý thức được thế nào là một nước dân chủ tự do tiến bộ. Nhiều phụ huynh học sinh đã gởi con em sang học ở Mỹ. Một số những người đó có thể sẽ mang về nước sau này một số mầm mống đổi thay.
Càng ngày càng nhiều càng tích lũy thì nhà nước cộng sản nhất định sẽ phải đổi thay nhiều hơn. Có điều là sự đổi thay kiểu đó chắc là chậm chạp, thay đổi từ từ chớ không nhanh chóng như một cuộc nổi dậy, một cuộc cách mạng hoa lài, và nếu chỉ tựa vào sự thay đổi chậm chạp này thì niềm ước mong được trở về thăm quê hương khi cộng sản không còn nữa của các cụ bảy mươi hơn nói ở phần đầu chắc khó thực hiện được. Đáng buồn thay cho các cụ! – (NTL)

Vận Nước – Lòng Dân
Mỗi Thứ Bảy & Chủ Nhật

Với sự cộng tác của

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm, cựu Thứ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thanh Liêm, chuyên viên Liên Hiệp Quốc TS. Đinh Xuân Quân, nhà báo Đinh Phụng Tiến, nhà văn Trần Phong Vũ, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhà báo Lê Hồng Long, GS. Ngô Đức Diễm, Thẩm Phán Đặng Đình Long, GS. Lê Hồng, TS. Mai Thanh Truyết, TS. Lê Minh Nguyên, nhà báo Huỳnh Quốc Bình, nhà thơ Huy Trâm, cựu Dân Biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng.

Điều hợp bởi nhà báo Võ Long Triều.

Ý kiến bày tỏ trên “Vận Nước – Lòng Dân” nói riêng và trên trang Diễn Đàn nói chung không phản ảnh quan điểm của ban chủ biên nhật báo Viễn Đông.


Nguồn: http://www.viendongdaily.com/mong-mot-ngay-ve-ot7Ptxl2.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo