Bạn thích bài này?
Font-Size:
Một Thoáng Hương Xưa
(VienDongDaily.Com - 29/04/2011)
Thái Nguyên cách Hà Nội 76 cây số, chỉ là một tỉnh nhỏ ở Trung du, nhưng là một tỉnh lịch sử của Việt Nam thời cận đại, với ...
Hạnh Đức (gửi cho Viễn Đông)

Ngọc Thạch là con gái út của một gia đình công chức bậc trung ở Thái Nguyên.


Thái Nguyên cách Hà Nội 76 cây số, chỉ là một tỉnh nhỏ ở Trung du, nhưng là một tỉnh lịch sử của Việt Nam thời cận đại, với cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn và với chiến khu Bắc-Sơn của Việt Minh: “Bắc Sơn đây núi cao rừng sâu, Bắc Sơn đây núi rừng chiến khu…”. Đúng vậy, Thái Nguyên có núi non hùng vĩ, có những cánh đồng nằm san sát dưới chân đồi, và ở giữa những đám ruộng lúa xanh tươi, đó đây lại mọc chen vào những khóm cây, trông xa như những chậu bonsai ngoạn mục. Thái Nguyên còn có nhiều đồn điền của người Pháp, đặc biệt là đồn điền của bà “Cát Thành Long”, nơi đã dung dưỡng những cán bộ nòng cốt của Đảng Việt Minh khi còn trong bóng tối. Ngay cả Hồ Chí Minh cũng lui tới thường xuyên những khi đi công tác, và đã được bà chủ đồn điền thết đãi ân cần tử tế, cơm gà cá gỏi… Bà còn tặng hàng trăm lạng vàng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Vì thế mà họ đã tôn bà lên làm “mẹ chiến sĩ”, từ lúc cách mạng chưa thành công.
Cô Phan Thị Ngọc Thạch càng lớn càng xinh đẹp dịu dàng, tính tình thùy mị đoan trang. Nàng học hết bậc tiểu học thì thi vào ngành y tá. Thời gian này nàng lọt vào mắt xanh cậu học trò tên Hùng. Hùng đẹp trai, con nhà giàu học giỏi, đàn ngọt hát hay. Lần đầu tiên nhận được lá thư hồng của chàng, nàng còn e ấp, chưa dám hồi âm. Nhưng rồi những lá thư tiếp theo với lời lẽ ngọt ngào âu yếm, khiến nàng mềm lòng. Quả thực, tình yêu đi vào lỗ tai, nói nhiều nói ngọt ắt lòng phải xiêu… Ngọc Thạch đã đáp lại mối tình si của chàng trai mới lớn. Không hiểu chàng về thưa với song thân như thế nào, mà các cụ vui vẻ đến thăm cha mẹ của nàng để làm quen. Khi hai gia đình đã hiểu nhau và trở nên thân thiện, thì nhà trai xin được phép mang cơi trầu đến chạm ngõ, coi như lời giao ước ban đầu. Mọi việc đang tiến triển tốt đẹp, thì đùng một cái Nhật đảo chính Pháp. Rồi đến ngày mồng 06 và 08 năm 1945, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, khiến Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng đồng minh vô điều kiện vào ngày 14-08-1945. Rồi quân Tầu sang tước khí giới quân Nhật, và Đảng Việt Minh nhanh tay nắm lấy chính quyền vào ngày 19-08-1945. Sau đó, Pháp lại trở lại Đông Dương và rồi chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ… Đến đêm 19-12-1946, Việt Minh hô hào toàn dân tiêu thổ kháng chiến, rút lui ra hậu phương để cầm cự lâu dài...
Khi vào chiến khu, lớp y tá của Ngọc Thạch phụ trách việc cứu thương. Trong số những nam sinh, thì Hùng làm trưởng ban văn nghệ… Trong chiến khu, Việt Minh thường tổ chức những đêm văn nghệ tưng bừng, để phấn khích tinh thần dân quân chiến đấu hăng say… Trong những đêm văn nghệ như thế, thì Hùng nổi bật với dáng cao cao đẹp trai, với mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Chàng chơi guitare Hawaiian, tiếng đàn nỉ non thánh thót làm say đắm lòng người… Thỉnh thoảng Ngọc Thạch cũng lên sân khấu ca một bài ca kháng chiến, nàng ca, chàng đệm đàn như một cặp nghệ sĩ duyên dáng. Khi nàng dứt lời, cử tọa vỗ tay rào rào tán thưởng, vang dội cả một góc rừng… Ai nấy đều khen Thạch, Hùng thật là một cặp uyên ương xứng đôi vừa lứa...
Trong vùng kháng chiến, “trên” phân công cho mỗi người mỗi việc, bộ đội thì ra chiến trường đánh Tây, hy sinh đến giọt máu cuối cùng… dân quân thì đi đào hào đắp lũy, vót chông… Còn những việc gì cần thì thanh niên có, việc gì khó có thanh niên xung phong đi đầu.  Ban văn công thì vẫn tập dượt đàn ca ở hậu phương an bình.
Thấm thoắt mà Ngọc Thạch đã 20 tuổi, Hùng 21. Đôi bên cha mẹ của Thạch và Hùng vẫn ở trong khu an toàn, họ chọn ngày lành tháng tốt cho đôi trẻ thành hôn. Đám cưới tập thể diễn ra vui vẻ, cũng có màn văn nghệ múa ca. Những cô gái Hà Nội xinh như mộng lên sân khấu trình diễn những bản dân ca kháng chiến sặc mùi máu như: “Ha ha! Ta phải giết, lũ tàn ác gian tham. Ha ha! Ta phải giết… Máu Việt Nam đang chảy, nhà Việt Nam đang bốc cháy…”. Nhìn những cái miệng xinh xinh thốt ra những lời ca khát máu trên, thấy không thích hợp chút nào. Mọi người nhâm nhi hớp nước trà tươi và nhấm nháp những viên kẹo bột, kẹo vừng để chung vui với những đôi tân hôn quần nâu áo vải.
Các cụ ta xưa, cưới vợ cho con là chỉ mong sớm có cháu nội đích tôn để nối dõi tông đường. Nhưng đã một năm trôi qua mà Ngọc Thạch chưa có tin vui, nên các cụ sốt ruột, bèn giục Hùng cưới vợ khác. Thương vợ, Hùng bèn dẫn vợ trốn lên Hà Nội, thời ấy gọi là “về tề” hay là “dinh tê”. Vợ chồng Hùng, Thạch bèn theo đoàn người hồi cư, trốn về đến Hà Nội bình yên.
Không hiểu có phải Hà Nội gạo trắng nước trong hay chăng, mà một năm sau thì ngọc Thạch sinh được cháu gái đầu lòng, vợ chồng nàng vui mừng và đặt tên cho con là Hoài Ân. Bé Hoài Ân càng lớn càng kháu khỉnh, xinh đẹp. Khi cháu vừa lẫm chẫm biết đi, thì biến cố trọng đại xảy ra: Hiệp định Genève ký kết ngày 20-07-1954, chia đôi đất nước từ vĩ tuyến thứ 17, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới Quốc, Cộng. Vợ chồng Thạch bế con di cư vào Nam và định cư ở một thành phố thuộc miền duyên hải. Vừa an cư xong, thì Hùng được lệnh động viên đi dự lớp huấn luyện sĩ quan khóa 5 tại Thủ Đức. Sau đó, không hiểu vì lý do gì, Hùng được thuyên chuyển lên học lớp sĩ quan Võ Bị Đà Lạt và tốt nghiệp khóa 11. Từ Chuẩn Úy, Hùng đã leo dần lên cấp bậc Đại Tá do những chiến công anh dũng, những trận đánh oai hùng… Còn Ngọc Thạch thì vẫn làm y tá cho bệnh viện toàn khoa ở tỉnh lỵ ngay từ lúc mới di cư vào Nam.
Tháng năm dần trôi, vợ chồng Đại Tá Hùng đã sản xuất được một đàn con khôi ngô tuấn tú. Gia đình thật là đề huề hạnh phúc. Khi nên Trời cũng chiều người, Hoài Ân, cô con gái đầu lòng đậu tú tài hạng tối ưu nên được học bổng du học Hoa Kỳ.
Sau những năm đèn sách, Hoài Ân đã tốt nghiệp tiến sĩ dược khoa tại University of Kansas. Nàng có người yêu tên Willy McIntyre học cùng trường và cũng cùng tốt nghiệp một khóa. Anh là con nhà gia giáo, người Mỹ gốc Đức, rất đẹp trai, thông minh học giỏi. Hoài Ân ngỏ ý muốn về Việt Nam thăm nhà, nhưng Willy ngần ngại không muốn nàng về lúc này, vì xem ra tình hình chiến sự đang đến hồi sôi động, miền Nam Việt Nam có thể một mất một còn... Nàng nói với người yêu: “Nếu tình hình như thế, thì em lại càng phải về gấp với cha mẹ và các em của em, kẻo lỡ ở nhà có sao, thì em sẽ không bao giờ còn gặp lại được nữa”. Tuy nàng yêu Willy, nhưng tình yêu gia đình vẫn mãnh liệt hơn. Chính vì thế mà nàng nhất định về thăm nhà, và trấn an Willy hãy yên lòng, đừng quá lo cho nàng.
Hôm ấy là ngày đầu của tháng 1-1975. Ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Willy tiễn chân Hoài Ân ra phi trường. Chàng bịn rịn cầm tay người yêu, âu yếm ôm hôn nàng thắm thiết và chúc nàng thượng lộ bình an, mong nàng sớm trở lại Kansas để còn tính chuyện trăm năm… Hoài Ân ngả đầu vào vai Willy nói lời tạm biệt mà nước mắt rưng rưng… Lúc sắp bước lên phi cơ, nàng còn ngoảnh lại lưu luyến nhìn Willy. Willy vẫn đứng yên, tần ngần trông theo người yêu, cho đến khi bóng nàng khuất vào lòng phi cơ. Willy lững thững ra xe, lòng bồn chồn bất an... Trên đường về, chàng mở radio ra nghe tin tức:
“Quốc Hội đang họp bàn về ngân khoản viện trợ cho Việt Nam… có lẽ sẽ giảm thiểu hoặc là… chấm dứt, vì chiến tranh đã kéo dài quá lâu. Những cuộc biểu tình chống chiến tranh chứng tỏ dân chúng Mỹ không còn đủ kiên nhẫn nữa. Hiện nay, Trung Cộng và Liên Xô đang ráo riết viện trợ quân nhu và quân cụ tối đa cho Bắc Việt, để dứt điểm miền Nam, v.v.. ”.
Nghe xong, chàng thở dài, lo lắng cho người yêu và gia đình nàng. Về đến nhà, Willy nằm vắt tay lên trán, nghĩ ngợi bâng khuâng… chen lẫn cảm tưởng mơ hồ như vừa mất đi một nửa phần hồn của mình…
Chiếc phi cơ “Air America” đáp xuống phi trường an toàn, mọi người thở phào nhẹ nhõm sau cuộc hành trình dài. Hoài Ân vừa bước chân ra khỏi phi cơ, đã thấy mẹ và các em nàng tươi cười, vẫy tay chào đón. Nàng vui mừng gặp lại mẹ và các em sau một thời gian dài xa cách. Mẹ con, chị em ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi… Qua cơn xúc động, họ hỏi thăm nhau tíu tít… Bà Thạch sung sướng ôm lấy người con gái cưng, vỗ về ra chiều âu yếm lắm. Hoài Ân nhìn mẹ mà thương: ngày nàng ra đi mẹ còn trẻ đẹp mà nay tóc đã bạc nhiều, trông già trước tuổi, nàng gục vào vai mẹ, rưng rưng nước mắt: “Con nhớ mẹ, yêu mẹ nhiều lắm! Có đi xa mới biết nhớ nhà như thế nào, mẹ ạ!”.
Bữa cơm tối hôm ấy không có mặt Đại Tá Hùng, vì ông đang ở ngoài mặt trận. Mãi mấy hôm sau ông mới về, người đầy bụi bặm. Hoài Ân ôm chầm lấy cha, mếu máo, hỏi: “Ba có mệt không ba? Con nhớ ba và thương ba lắm!”. Ông cũng mừng, ôm cô con gái cả vào lòng, nghẹn ngào nói: “Ba me lúc nào cũng nhớ con và luôn luôn cầu xin Ơn Trên cho con được bình yên mạnh khoẻ, ăn học thành tài. Điều mong ước của ba me nay đã thành hiện thực. Ba me mừng lắm!”.
Từ hôm Hoài Ân về, chị em nàng thường rủ nhau đi tắm biển, đi chơi khắp đó đây và đi ăn quà, những món ăn Việt Nam mà ở Mỹ không có. Ân bảo với các em: “Không đâu bằng quê hương mình, các em ạ! Nhưng chị không thể ở chơi lâu được, chị sẽ trở lại Mỹ đi làm và…”. Nói đến đây, Ân ngập ngừng không nói tiếp. Các em nàng gặng hỏi: “Và làm sao cơ?”. Ân e thẹn đáp: “Vì chị có người yêu ở Mỹ, tên anh ấy là Willy. Anh ấy cũng tốt nghiệp dược khoa như chị. Chị đã xin phép ba me cho chị trở lại bên đó để làm lễ thành hôn với anh ấy. Ba me đã chấp thuận rồi”. Tất cả mấy đứa em của nàng đều “ồ” lên một cách vừa ngạc nhiên vừa thất vọng, vì chị mình sẽ không ở nhà chơi lâu. Gương mặt Hoài Ân bỗng buồn thiu, nàng có vẻ mơ màng như trông thấy bóng người yêu ở tận phương trời xa…
Tình hình chiến sự Việt Nam đã đến hồi kết thúc. Đại Tá Hùng vắng nhà luôn, mỗi lần đi hành quân về, vừa quăng ba lô xuống đất là nằm vật ra, thở dài buồn bã…
Thấm thoắt mà Hoài Ân đã về nhà được gần hai tháng, nàng dự định đầu tháng 3 thì trở lại Mỹ. Nhưng vì thấy cha nàng cứ phải đi tác chiến hoài, còn mẹ thì đầu tắt mặt tối ở bệnh viện để cứu thương, vì thương binh từ mặt trận chở đến ùn ùn, có khi mẹ phải làm việc đến nửa đêm mới về. Trong lúc cha mẹ đang dấn thân làm nghĩa vụ công dân, nước nhà đang nghiêng ngửa, các em thì nheo nhóc không người trông nom săn sóc, nàng là chị cả, nỡ lòng nào mà bỏ đi cho đành. Tuy nàng rất nhớ Willy, và biết chàng cũng mong nhớ và lo lắng cho nàng nhiều. Nhưng biết làm sao bây giờ?
Ngày 05-03-1975, Cộng quân bắt đầu tấn công cao nguyên Trung Phần, rồi Huế rơi vào tay Bắc quân, rồi đến Đà Nẵng thất thủ, v.v.. Dân chúng từ các nơi di tản về Sài Gòn thật đông… Nhiều quân nhân ngơ ngác, ôm súng ngồi buồn bã ở góc phố lề đường như rắn mất đầu… cấp chỉ huy của họ bỏ đi đâu mất nên họ phải bơ vơ… Nghĩa là quân đội đã tan rã rồi, mà không thấy Đại Táù Hùng về. Rồi tiếp theo là ngày 30-04-1975 kinh hoàng ấy, mà vẫn chưa biết tin Đại Táù Hùng ở đâu? Bà Thạch vẫn phải làm việc ngày đêm ở nhà thương. Tuy Việt Cộng đã tiếp thu bệnh viện, đuổi thương binh của ta ra ngoài, nhưng họ lại tải thương binh của họ đến, bắt y tá người mình phải làm việc như thường, nhưng không phát gạo, phát lương. Hoàn cảnh gia đình Đại Táù Hùng đã thực sự lâm vào tình huống bi đát…
Đến lúc này, Hoài Ân mới thấy lời khuyên của Willy là đúng. Giá nàng nghe lời chàng ở lại Mỹ, thì giờ này đã có thể tiếp tế tiền bạc, thuốc men gửi qua Pháp, rồi từ Pháp chuyển về cho cha mẹ để cứu nguy. Nhưng nàng đâu có ngờ rằng, chiến cuộc biến chuyển nhanh như chớp vậy? Nhưng nghĩ đi nghĩ lại câu: cốt nhục tình thâm, nàng về thăm cha mẹ lúc này mới là quý: “Thà chết một đống, còn hơn sống một người”.
Bà Thạch vẫn ngày ngày còng lưng đạp xe đạp lọc cọc đến làm việc ở bệnh viện. Tuy không được trả lương, nhưng cũng phải làm để bám lấy thành phố, nếu không thì phải đi kinh tế mới. Nhà bảy tám miệng ăn, lấy gì mà sống? Tin đồn đám con nhà giàu ở phố chính đã lục tục vượt biển, có đám đi thoát, có đám không. Đêm đêm bà Thạch và con gái không sao ngủ được, nằm thủ thỉ bên nhau. Bà thở dài nói: “Trận mạc xưa nay mấy kẻ về? Đến giờ này mà ba con chưa về thì một là đã tử trận rồi, hai là mất tích. Thương ba quá!”. Nói đoạn bà khóc… Đúng lúc ấy thì bà chủ tiệm sản xuất nước mắm gần đó có mối đi. Bà hỏi bà Thạch có muốn cho Hoài Ân đi thì cho bà hay, bà sẽ giúp. Nếu đi thoát thì khi sang đến nơi đưa tiền cho con gái của bà ấy cũng được. Giá năm lạng vàng một người. Nghe mẹ nói thế, mắt Ân sáng lên, nói: “Vậy mẹ lo cho con đi nhé! Nhờ Trời nếu đi thoát thì sang đến nơi con sẽ mua vàng hoàn lại cho con gái bà ấy, và gửi tiền về giúp mẹ để mẹ nuôi các em con”.
Đúng như chương trình hoạch định của nhóm người tổ chức. Trong chuyến ghe ấy có tất cả 75 người, mỗi người nộp 5 lạng vàng. Bãi đáp ở bờ biển, đúng đêm 30 tối trời, mọi người phải có mặt, và còn phải nói đúng mật khẩu mới được bốc lên ghe lớn.
Việc Hoài Ân ra đi, chỉ có hai mẹ con bàn bạc với nhau, các em nàng không hề hay biết. Nửa đêm hôm ấy, Ân mặc áo ấm, đội mũ, đi giày. Bà Thạch bỏ vào túi vải cho con mấy nắm cơm, mấy củ khoai lang luộc và chai nước lọc, rồi ôm hôn con, chúc con đi bằng yên, thuận buồm xuôi gió, đến được bến bờ tự do. Hoài Ân bịn rịn không muốn rời xa mẹ. Bà Thạch phải giục: “Thôi, đi đi con, kẻo trễ giờ”. Lúc bước chân ra cửa, nàng còn lưu luyến nhìn mẹ như nhìn lần cuối…
Hoài Ân đi rồi, bà Thạch vào phòng nằm thao thức không sao ngủ được. Bà trở dậy thắp nhang khấn vái trước bàn thờ các Đấng Thần Linh, nguyện cầu cho con được thuận buồm xuôi gió, đến được bến bờ tự do. Đoạn bà lại lên giường nằm giỗ giấc ngủ… nhưng vừa chợp mắt được một lúc, thì có tiếng gà gáy sáng. Bà giật mình tỉnh giấc, nhìn đồng hồ đã tám giờ, bà vội mặc áo dài đi làm. Khi vào đến bệnh viện, thấy mấy cô y tá VC nhìn bà với cái nhìn soi mói khác thường. Mãi đến lúc loa phóng thanh treo trên cột đèn đường, oang oang loan tin:
- Chiếc ghe số Q.H.19, chở tất cả 75 người, toàn là bọn thanh niên nam, nữ, con cái của bọn phản động mưu toan trốn ra nước ngoài… đã bị Công An tuần duyên bắt lại rồi.
Đến lúc ấy bà Thạch mới biết rằng chiếc ghe mang những con số trên, đúng là chiếc ghe trong đó có con bà. Nghe xong, bà rụng rời chân tay, hầu như không đứng vững nữa, bèn xin phép nghỉ một ngày. Về nhà bà tất tả đến Công An phường hỏi thăm xem con gái bị giam ở đâu để còn lo tiếp tế cho con. Tội nghiệp! Chồng bị mất tích, con gái bị bắt. Thật là “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Lúc này tiền nong không có thì lấy gì mà sống? Trong lúc cùng cực như thế, thì được tin Đại Táù Hùng bị giam ở trại cải tạo “Đá Bàn”. Bà vừa buồn vừa vui, vui vì như thế là chồng bà còn sống. Việc cấp thiết nhất là phải tìm đường đi thăm nuôi chồng. Bà ra chợ trời, gọi người đến bán bộ salon bằng gỗ cẩm lai, lấy tiền mua thuốc men và thực phẩm đi thăm nuôi chồng và con. Bà cũng không quên viết thư gửi sang Pháp cho bà bạn, nhờ báo tin cho Willy biết là Hoài Ân vượt biển, đã bị bắt và bị giam ở “Trại Cải Tạo A-30, Phú Yên”.
Khi Willy nhận được hung tin, chàng cuống cuồng chạy đôn, chạy đáo, làm đơn kêu cầu Bộ Ngoại Giao Mỹ can thiệp với chính quyền Việt Nam trả tự do cho Hoài Ân và cho phép nàng trở lại Hoa Kỳ. Nhưng mọi nỗ lực của chàng đều không có kết quả. Kể từ đấy, Willy buồn rầu mà sinh bệnh...
Thấm thoắt mà Hoài Ân đã ở tù được ba năm. Mỗi lần bà Thạch đi thăm con, thấy con gầy gò tiều tụy mà ứa nước mắt… Nhưng trước mặt cán bộ quản giáo, nàng vẫn nói: “Thưa mẹ, xin mẹ đừng lo, con vẫn khoẻ và vẫn lao động tốt để sớm được khoan hồng về làm phó thường dân trong xã hội chủ nghĩa”.
Lại đến kỳ được đi thăm nuôi, bà đem thức ăn cho con và đem những lon gô cũ về soạn ra, thấy cái nọ lồng vào cái kia, bà bèn lôi ra toan rửa thì có một mảnh giấy rơi xuống đất. Bà vội nhặt lên xem:
“Thưa mẹ, con viết thư này thăm mẹ và các em, nhờ ánh trăng chênh chếch chiếu vào song cửa trại giam. Ở đây lạnh lắm mẹ ạ! Mấy bộ quần áo của con đã rách bươm ra rồi, nếu mẹ có tiền thì may cho con hai bộ quần áo đen, vải dày để con gánh nước cho bền, những cái áo trước, cái nào cũng toạc vai, vì mỗi ngày con phải gánh bẩy mươi gánh nước về cho cán bộ tắm rửa. Ngày nào không gánh nước thì gánh phân pha loãng tưới rau xanh, làm vệ sinh trong trại, hoặc làm cỏ ruộng lúa ngoài đồng, trồng khoai lang, xay thóc giã gạo cho cán bộ ăn. Làm những công việc nặng nhọc như thế nhưng không được ăn no. Tuần trước, mưa to ngập lụt, toàn trại phải dời lên núi. Bây giờ nước rút, chúng con lại phải dọn về, nền đất còn ẩm ướt, ban đêm trải manh chiếu rách nằm, cái lạnh thấm vào đến tận xương tủy!… Vậy nhà mình có còn cái mền cũ nào thì cho con một cái để lót nằm cho đỡ lạnh. Mẹ ơi! Hình như sắp đến Tết Trung Thu rồi phải không? Con còn nhớ những Tết Trung Thu năm xưa, cả nhà mình ngồi quây quần dưới ánh trăng thanh, ba me thì ăn bánh, uống nước ngắm trăng, còn chị em con thì xách đèn lồng, đèn ngôi sao đi vòng vòng quanh sân nhà, vừa đi vừa ca hát… Cảnh sum vầy ấy nay chỉ còn trong ký ức mà thôi, mẹ nhỉ! Không biết đến bao giờ con mới được trả tự do, dầu con đã cố gắng hết sức để đạt chỉ tiêu, mong sớm được tha về. Nhưng quản giáo cứ nói rằng, con vẫn còn tiêu cực, chưa gột rửa hết đầu óc tiểu tư sản và những gì Đế Quốc Mỹ đã nhồi nhét vào đầu trong những năm con du học ở nước ngoài. Không biết Willy có giúp được gì cho con không? Mẹ có tin tức gì về anh ấy không, thưa mẹ? Còn tình trạng sức khoẻ của ba con ra sao? Kỳ tới mẹ đi thăm, cho con gửi lời kính thăm ba, con nhớ ba lắm!
Giấy đã hết, và bút chì cũng đã mòn, không thể viết tiếp được nữa, mặc dầu con muốn viết thật dài để thở than với mẹ cho vơi buồn… Con cầu xin Thượng Đế phù hộ cho gia đình mình sớm được đoàn tụ bên nhau.
Con nhớ ba me và các em nhiều lắm: Hoài Ân”.
Bà Thạch vừa đọc thư con vừa khóc, nước mắt lã chã tuôn rơi nhoè cả mấy trang thư. Bà cẩn thận đốt thư đi rồi gọi người đến bán đồ đạc để lấy tiền mua mền len và may áo ấm cho con.
Đại Tá Hùng bị phù thủng, da vàng, tròng trắng mắt cũng vàng, răng rụng gần hết, đi đứng không vững, nên quản giáo gọi bà lên để đưa ông về. Về đến nhà, bà cố gắng chạy chữa cho ông, nhưng chỉ một tháng sau thì ông qua đời. Bà có xin phép cho Hoài Ân về chịu tang cha, nhưng bị khước từ. Người Cộng Sản không cần biết câu: “Nghĩa tử là nghĩa tận”.
Sau hơn ba năm lao động khổ sai, Hoài Ân đã được trả tự do. Niềm hy vọng được Willy xin cho nàng đi Mỹ rất mong manh. Tuy nhiên nàng vẫn hy vọng và chờ… Willy vẫn viết thư thăm nàng với lời lẽ nồng nàn, thương nhớ khôn nguôi…
Bà Thạch có bà bạn tên là Liên, bà Liên nhờ Hoài Ân đến nhà dạy Anh văn cho các con. Bà có người em trai là kỹ sư tên Sơn, còn độc thân, du học bên nước Đức, nay về thăm chị. Sáng hôm ấy, Hoài Ân đến dậy học như thường lệ. Sơn vừa trông thấy mặt nàng là có cảm tình ngay, như bị tiếng sét ái tình… Chàng đứng ngây người nhìn Hoài Ân không chớp mắt. Sau đó, chàng nhờ bà chị hỏi dò xem Hoài Ân đã có chồng hay chưa? Nếu chưa thì giới thiệu cho chàng được làm quen… Và bà Liên đã giới thiệu cho hai người gặp nhau… Đây là dịp may hiếm có trong lúc Hoài Ân muốn ra khỏi Việt Nam. Mới gặp nhau lần đầu, hai người còn giữ gìn ý tứ vì đều là con nhà gia giáo, có học thức. Hoài Ân có nét đẹp Đông phương, thùy mị và đoan trang nên Sơn đem lòng yêu mến. Chàng ngỏ ý muốn cưới ngay, vì chiếu khán của chàng sắp hết hạn. Đối với Hoài Ân, đây là cơ hội bằng vàng để xuất ngoại, nhưng tình yêu của nàng đối với Willy vẫn chưa phai mờ… Trong lúc nàng còn đang do dự có nên lấy Sơn hay nên chờ đợi Willy thêm một thời gian nữa, thì nhận được thư của Willy gửi về qua một người trung gian ở bên Pháp, tạm dịch như sau:

 “Hoài Ân yêu quý! Anh rất buồn vì không giúp được gì cho em. Em có biết không? Anh đã làm đơn kêu cầu khắp nơi để xin cho em được tự do và qua đây với anh, nhưng không thành công. Trong suốt thời gian xa cách, đêm đêm anh vẫn quỳ gối cầu xin Thượng Đế phù hộ cho em và gia đình em được bình yên, mạnh khoẻ. Anh không ngờ rằng ngày anh tiễn chân em về Việt Nam, lại là ngày chúng mình vĩnh viễn xa nhau… Viết đến đây, anh khóc… Không biết em có đủ can đảm nghe anh báo cho em một tin buồn không? Bác sĩ khám bệnh cho anh, sau khi thử nghiệm cẩn thận, đã cho anh biết là anh bị ung thư gan, chẳng còn sống được bao lâu. Vậy em đừng chờ anh nữa. Hãy ráng quên anh đi mà lấy chồng, lấy người nào thật lòng thương yêu em như anh đã thương em, thì anh sẽ yên tâm ra đi… Thời gian em về Việt Nam thì ở bên này, anh đi làm và có dành dụm được một số tiền, định để dùng vào việc đám cưới của chúng mình. Nhưng nay thì không cần đến nữa. Vậy anh đã gửi số tiền ấy vào trương mục của mẹ anh, mẹ anh sẽ gửi cho em. Địa chỉ của mẹ anh vẫn như cũ. Nếu em đi lấy chồng thì anh thành thực chúc em được hoàn toàn hạnh phúc. Những thư từ và hình ảnh của em, anh đã bỏ vào cái hộp, nhờ mẹ anh yêu cầu nhà quàn khi khâm liệm, thì bỏ vào quan tài để chôn theo anh. Chôn theo những kỷ vật mà anh đã gìn giữ bấy lâu… Hôn em và yêu em đến hơi thở cuối cùng.                   
Vĩnh biệt: Willy McIntyre”

Hoài Ân vừa đọc thư vừa khóc sưng cả mắt, phải xin phép nghỉ dạy học một ngày. Nằm nhà, nàng nhớ lại những ngày vui xưa, khi nàng còn là một sinh viên nhí nhảnh, vô tư… Willy và nàng thường đi đánh tennis vào mùa hè, đi trượt tuyết vào mùa đông. Sáng sáng chàng lái xe đến đón nàng đi học. Vào những ngày nghỉ cuối tuần thì hai người rủ nhau đi ăn cơm tiệm. Rồi đến vũ trường vui chơi giải trí, nhảy bản Tango lả lướt… người cứ lâng lâng ngây ngất như hòa mình vào vũ điệu tình yêu… Nhạc chuyển sang điệu slow, Willy vòng tay ôm lấy nàng, âu yếm hôn lên má nàng, nàng ngả đầu vào vai Willy, lim dim mắt hưởng những dây phút đắm say… Thỉnh thoảng chàng và nàng cũng đi dự dạ hội… Nàng mặc áo đầm hở vai, Willy cúi xuống hôn lên bờ vai tròn trĩnh của nàng, đắm đuối nhìn vào đôi mắt trong veo, đen láy của nàng, khen: “Em đẹp quá!”. Nhưng than ôi! Ngày ấy nay còn đâu! Bây giờ đời nàng như cá chậu chim lồng, tuy được ra khỏi trại giam nhưng lại bị quản thúc tới ba năm… Nghĩ ngợi chán, nàng ngồi dậy, lấy giấy bút viết thư cho Willy bằng tiếng Anh, tạm dịch như sau:
 “Willy yêu quý! Nghe tin sét đánh anh bị ung thư, em buồn và thương anh lắm. Em muốn được ở bên anh để chăm sóc và an ủi anh vào những ngày cuối đời. Nhưng hai phương trời cách biệt, em biết làm sao hơn? Chỉ còn biết cầu xin Ơn Trên ban nhiều nghị lực cho anh để anh chịu đựng căn bệnh nan y làm anh đau đớn. Đọc thư anh mà em khóc… và cảm động về lòng tốt vô cùng của anh. Thời gian em ở tù, em biết, anh đã chạy đôn chạy đáo để cứu em. Không phải anh bất lực đâu, chỉ vì lúc ấy hai chính phủ chưa có bang giao. Bây giờ anh lâm bệnh hiểm nghèo mà lại còn lo cho tương lai em và cho em tiền. Em cám ơn anh vô cùng. Anh khuyên em quên anh đi mà lấy chồng. Dù em có lấy ai thì cũng vì hoàn cảnh mà thôi. Dù cuộc đời em mai sau thế nào, em sẽ không bao giờ quên anh, quên mối tình tuyệt vời của chúng ta, em sẽ chôn chặt nó ở trong lòng. Anh có nhã ý tặng em một số tiền. Nhưng anh ơi! Nếu em đi lấy chồng và ra được nước ngoài thì em sẽ đi làm, sẽ không cần đến tiền anh cho đâu. Vậy số tiền ấy, xin cứ để mẹ dùng, và coi như là em đã nhận rồi, nhận tấm lòng thành của anh, nó còn quý hơn là tiền. Xin Thượng Đế phù hộ anh và xin Ngài sẽ đón linh hồn anh về nơi vĩnh phúc. Xin nhớ rằng, cho đến giờ phút này, em vẫn yêu anh như xưa, với tất cả tấm lòng thành thực ban đầu. Cùng với bức thư này, em gửi đến anh một nụ hôn vĩnh biệt.
Hoài Ân”
Tuy nỗi buồn chưa nguôi, nhưng hoàn cảnh của nàng lúc này như người đang chới với giữa biển khơi, sóng nước muôn trùng… Sơn đã đến đúng lúc, đã ném cái phao xuống cho nàng bám vào mà bơi lên bờ… Vậy thì nàng còn chần chờ gì mà không nắm lấy thời cơ? Thực lòng, nàng không có ý lợi dụng Sơn như cái giấy thông hành cho nàng xuất ngoại. Nhưng “cơ hội tốt không đến lần thứ hai”. Chính mẹ nàng đã khuyên nàng như vậy.
Không còn sự lựa chọn nào khác, nàng bằng lòng kết hôn với Sơn. Đám cưới được cử hành một cách đơn giản. Xong đâu đấy, Sơn làm giấy tờ bảo lãnh cho vợ rồi bay về Bá Linh để đi làm. Nước Đức và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẵn có bang giao, nên việc xuất cảnh của Hoài Ân không phải chờ lâu. Chỉ mấy tháng sau, mọi thủ tục đã hoàn tất, Sơn lại bay sang Việt Nam đón vợ về. Theo chồng về tổ ấm, nàng đi học tiếng Đức rồi đi làm. Từ đấy, nàng có thể phụng dưỡng mẹ già và lo cho các em ăn học tử tế.
Đến năm 1992, bà Ngọc Thạch được đi Mỹ theo diện H.O., vì chồng bà là cựu tù nhân chính trị, đã phải lao động khổ sai hơn ba năm trời ròng rã trong “Trại Cải Tạo Đá Bàn”, đến nỗi kiệt sức mà chết.
“Qua cơn bĩ cực tới thời thái lai”. Tám mẹ con bà Ngọc Thạch đã được đặt chân lên miền đất hứa. Vợ chồng Sơn, Ân đã từ Bá Linh bay sang đón mẹ và các em tại phi trường Los Angeles, Nam California. Vừa bước chân ra khỏi máy bay, mắt bà Thạch hoa lên, hầu như choáng ngợp trước một xứ sở văn minh, tân tiến. Bà thầm cảm ơn nước Mỹ đã tiếp nhận gia đình bà đến vùng đất tự do.
Xem ý, đôi tân hôn rất yêu quý nhau, họ đã bén duyên cầm sắt… Đối với Sơn, Hoài Ân tỏ ra là người vợ hiền. Nàng biết ơn chồng, người đã yêu nàng một cách chân thành, và đã rước nàng về lâu đài tình ái, chung hưởng hạnh phúc dưới bầu trời tự do, nhân ái…
Mỗi người trong chúng ta, hẳn đã có một lần thơ thẩn bước vào đời với giấc mộng: xây lâu đài tình ái. Có người may mắn thành công, nhưng cũng có người chưa xây xong mộng đã vỡ rồi. Như trường hợp Hoài Ân và Willy. Mộng không thành là do duyên số. Nếu Hoài Ân ở lại Mỹ kết hôn với Willy thì bây giờ nàng đã trở thành góa phụ. Tuy nhiên những kỷ niệm êm đềm ngày xưa ấy, thỉnh thoảng lại lóe lên trong ký ức của nàng, như cuốn phim chiếu lại “một thoáng hương xưa”, với những hình ảnh tỏ mờ trong dĩ vãng…

Trích trong tập truyện “Tiếng Khóc Trong Rừng Khuya” của nhà văn Hạnh Đức.

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/mot-thoang-huong-xua-kcn2jChs.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo