Hoài Mỹ/Viễn Đông
Đọc mẩu tin sau đây dù vẫn xẩy ra “như cơm bữa” dưới chế độ Việt Cộng ngày nay, bất cứ người nào còn tạm được gọi là vẫn có chút xíu giáo dục trong huyết quản, cũng không thể vô cảm mà phải giật thót mình đến cả chục lần là ít: “Bị nhắc nhở vì mặc đồng phục không đúng qui định của nhà trường, một học sinh lớp 8 rủ bạn chặn trước cống trường để đánh thầy và đập xe của thầy”.
Tác giả bản tin viết là “bị nhắc nhở”, thiết tưởng không đúng nghĩa, phải là “được” mới chính xác, vì người “nhắc nhở” là một ông thầy, trong khi kẻ “được” nhắc nhở là một học trò.
Vâng, “sự cố” này xẩy ra ở Việt Nam, ngày 13 tháng 10, tại một trường cấp 2 - trước 1975, ở miền Nam, chúng ta gọi là Trung Học Đệ Nhất Cấp - tại Gia Lai. Trẻ học lớp 8 thì mới khoảng 12-13 tuổi chứ mấy, vẫn thuộc hạng “hỉ mũi chưa sạch”, vậy mà cũng đã có dư máu du côn thứ thiệt. Theo bản tin, đánh thầy ở trước cổng trường chưa đã, trò này còn tăng cường lực lượng bằng cách rủ thêm một tên bạn khác lớn hơn, học lớp 9 cùng trường - dĩ nhiên trò này cũng là hạng “chưa thấy mặt đã biết địa chỉ” - cùng kéo đến tận nhà thầy để tiếp tục chương trình đánh thầy ở hiệp hai và chung kết. Vừa thấy thầy, cả nhóm đã xông vào đánh, đấm, đá thầy túi bụi. Một lúc sau, thầy bị trọng thương đến độ phải vào bệnh viện cấp cứu. Nhờ “số đỏ” nên thầy chưa chết và không bị phế tật, chỉ sơ sơ phải nằm điều trị có hai ngày thì được ra viện.
Cả hai thầy, trò này đều mang tên đẹp và nghe ròn hơn bắp rang: Thầy là Nguyễn Xuân Dương; trò là Trương Ngọc Cường. Tuy nhiên tiếc thay, Cường và Dương thông thường vẫn dính vào nhau, đoàn kết với nhau, nhưng thầy, trò này đã bất khả hòa hợp. Ngoài việc dạy môn Lý, thầy Dương còn là chủ nhiệm lớp nên thầy cũng mong muốn trò Cường tuân thủ nội qui trong việc mặc đồng phục. Thế nhưng trong trường hợp này, đúng là trên bảo dưới không nghe. Thông thường thì “thượng bất xứng, hạ tắc loạn”, nhưng ở đây thì ngược lại. “Thượng cấp” thì đàng hoàng còn “bộ hạ” lại vẫn cứ cứng đầu, mất dạy. Nói cách khác, phải chăng việc “nhắc nhở” của thầy Dương đã khiến trò Cường ấm ức, bực tức vì cảm thấy “mất mặt bầu cua”, “thua khu bưu chính” trước đám con gái chăng?
Bản tin không cho biết chi tiết về trò Cường đã mặc đồng phục thế nào mà thầy Dương đánh giá là “không đúng qui định” nên mới nhắc nhở. Theo thiển ý, có thể trò Cường có mặc áo nhưng phanh ngực hoặc cũng có thể mặc quần xệ để lòi bộ mông - hoặc muốn khoe cả hai thứ như vừa suy đoán? Thế nhưng, một là cả ngực lẫn mông của tên học trò này vốn chưa thực sự bước vào Tuổi Mới Lớn nên chẳng có nét gì hấp dẫn, trái lại còn làm ngứa mắt thiên hạ, phản nghệ thuật cổ kim… nên thầy Dương phải nhắc nhở “thằng nhỏ” cất những thứ “nội sản” kém giá trị đó đi, may ra mai này lớn lên còn mong lấy được vợ. Hai là vì trong lớp có nhiều nữ sinh, thầy Dương không muốn học trò gái của mình sớm lơ đãng bài vở vì những “hàng hiệu” giả đó để rồi “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, đồng thời còn tối tối than thở là “hôm nay trời nhẹ lên cao - tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn”…
Tuy vậy, đối với trò Cường, dù thầy Dương vì thiện chí mà làm gì đi nữa cũng vẫn là “phản động”, là đi ngược lại “dòng thác cách mạng”, vẫn là âm mưu thọc gậy bánh xe lịch sử, vẫn không tiếp thu được thứ văn hóa mới của xã hội chủ nghĩa, vì thế phải nhân danh là “học sinh tiên tiến” có “khăn quàng đỏ” mà đánh thầy.
Hơn nữa, thái độ và cách xử thế của trò Cường xem ra… quen quen, nên thiên hạ dễ đoán tên Cường này thuộc loại “con ông cháu cha”, nếu không là con ruột của một cán bộ huyện ủy hay tỉnh ủy thì cũng là con rơi của một bộ đội mang quân hàm ít ra cũng cấp tá. Bởi có cha mẹ thuộc “thượng tầng kiến trúc” trong chế độ cộng sản, con cái tuy mang tiếng cắp sách đến trường nhưng cơ bản vẫn thấm nhuần chủ thuyết “tam vô” của chế độ, bởi thế không lạ khi chúng thực thi triệt để trong cuộc sống thực tế: Vô phép, vô luân và vô giáo dục!
Thêm vào đó, “sự cố” xẩy ra trước cổng trường mà không thấy có ai can thiệp khiến trò Cường được cơ may mà thỏa chí tang bồng “đánh thầy và đập xe thầy”? Điểm đáng chú ý là trò Cường không hưởng “đại thắng mùa Xuân” một mình mà “rủ bạn” cùng “đánh cho thầy cút, đánh cho thầy nhào”. Chẳng thể nói ban Giám Hiệu đã không hay biết tí gì, bởi vì “sự cố” không thể xảy ra êm đềm, trái lại huyên náo như thể “có cả bác Hồ trong ngày vui” này. Hơn nữa, thông thường trường nào cũng có “cảnh vệ” đầy sân mà bổn phận chính là giữ gìn trật tự, an ninh ở trong lẫn ngoài cổng trường. Không lý hôm đó toàn thể “cảnh vệ” cũng đã nhận được lệnh ra cả Hà Nội để tấn công giáo xứ Thái Hà, vì thế bỏ trống chiến khu trường học, mặc sức cho lũ côn đồ “thừa thắng xông lên” sao?
Một nghi vấn khác nữa, bộ toàn thể học sinh trường Lê Quý Đôn này lãnh cảm cả à? Lục Vân Tiên thuở xưa lúc hạ sơn bỗng thấy một bọn cướp tấn công một chiếc xe mà trong đó chàng chưa hề biết có người đẹp Kiều Nguyệt Nga thế mà - sau khi đã mắng cho chúng một trận tơi bời hoa lá: “Bớ lũ hung đồ, chớ quen làm thói hồ đồ hại dân” - chàng chẳng cần đợi chúng đáp từ, liền “tả đột hữu xung” khiến “lũ kiến đàn ong”, bọn “lâu la bốn phía vỡ tan”. Vậy mà khi chứng kiến cảnh một ông thầy bị một nhóm học sinh khác - cùng trường - đánh mà chẳng một trò nào bất bình, phản ứng lại “lũ đầu trâu mặt ngựa” đó? Chẳng lẽ cả một trường học cấp 2, không có được một Lục Vân Tiên vốn cũng chỉ là một “học trò dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”, để nhảy ra bênh vực thầy Dương? Cả nhóm tên Cường dẫu có là những tay anh chị thứ thiệt cỡ nào đi nữa nhưng chắc chắn cũng đã phải vắt giò lên cổ mà chạy vì “mãnh hổ bất địch quân hồ”. Vậy mà cả toàn thể đồng nghiệp lẫn học sinh vẫn để thầy Dương bị ăn no đòn hội chợ!
Gần đây ở Việt Nam lại thịnh hành một “mốt” mới trong giới học sinh; không những thế trọn cảnh còn được thâu bằng điện thoại di động để phổ biến trên các trang mạng điện tử nhằm cho cả nhân loại trên khắp thế giới cùng thưởng ngoạn các hiện tượng đó trong lãnh vực học đường Việt Nam ngày nay. Đó là vẫn thường xuyên diễn ra cảnh một nữ sinh bị một nhóm đông nữ sinh khác “bề hội đồng”, trong khi nhiều nam sinh vừa đóng vai cổ động viên vừa làm khán giả nhiệt tình. Cũng đầy đủ các “mục ăn chơi” như đấm, đạp, giật tóc, xé quần áo… Khi “con mồi” đã “mềm như sợi bún” nằm ụ một đống thì những “liệt nữ chiến thắng” thay nhau nhổ nước miếng vào; có nàng còn anh dũng tè luôn vào đầu, mặt kẻ chiến bại. Tiếng vỗ tay, huýt sáo của đám nam sinh vang lên chẳng kém gì quang cảnh kháng chiến quân ở Libya hạ được Muammar Gaddafi.
Kẻ hèn này không dám nghĩ “mốt” trên của học trò Việt Nam hiện đại cũng đã được “thi đua” áp dụng cả với thầy, cô khi một học trò bất mãn vì bị điểm yếu hoặc bị la rầy vì vi phạm kỷ luật nhà trường hay khi “được” nhắc nhở học chăm, duy trì trật tự trong lớp, giữ hạnh kiểm tốt…
Thời xưa, nền giáo dục cổ truyền Việt Nam vẫn dựa trên nền tảng “tiên học lễ - hậu học văn” - nghĩa là trước hết phải học lễ nghĩa, đạo đức, sau mới đến học chữ nghĩa, văn chương. Song song đó là chủ trương coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhà trường.
Chữ “lễ” còn chỉ về sự trật tự trong xã hội, theo đó “quân - sư - phụ”: Quân là vua; Sư là thầy và Phụ là người cha. Thời nay vì trọng tinh thần dân chủ nên quan niệm thứ bậc ấy xưa rồi, không còn hợp thời nhưng thầy dạy học theo luân lý và văn hóa Việt Nam vẫn luôn luôn chiếm một địa vị quan trọng, vẫn được kính nể. Những câu tục ngữ, thành ngữ như: “Không thầy, đố mày làm nên” hay “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (“dạy một chữ cũng là thầy; dạy nửa chữ cũng là thầy”… vẫn không mất giá trị, bởi vẫn phản ảnh tinh thần người Việt quí trọng những bậc có không dạy dỗ mình không chỉ về chữ nghĩa mà cả về đạo đức nữa.
Vụ “trò chặn đường đánh thầy, xông vào nhà đánh thầy trọng thương” kể trên đây không hiếm, nhưng rất thường xẩy ra ở Việt Nam, dưới chế độ cộng sản. Làm sao “đảng và nhà nước” có thể đào tạo nên những công dân tốt khi học đường đã trở thành thị trường mua bán bằng cấp, chạy tiền để được có chỗ học - nhất là chủ thuyết cộng sản lỗi thời vẫn chỉ đạo và vẫn chiếm địa vị độc tôn trong học trình.
Nếu ở Việt Nam vẫn có được những người có nhân bản, có lương tâm, vẫn có những người phúc hậu, biết kính trên trọng dưới, vẫn cương nghị bất khuất, vẫn biết quí trọng nhân nghĩa… thì dứt khoát đó không nhờ vào sự “giáo dục” của chủ nghĩa, của chế độ mà nhờ vào sự giáo dục của gia đình, của tôn giáo và ảnh hưởng của luân lý và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. – (HM)