Wednesday, 20/03/2019 - 04:42:51

Ngày lễ Hai Bà Trưng, Nhắc bài sử Việt lãng quên

 

Bài TRẦN THỊ VĨNH TƯỜNG

“Ta lên núi đuổi đàn nai”

Ta lên núi

đuổi đàn nai

Ta lên núi

đuổi đàn hươu…


tương truyền là bài hát hành quân của Hai Bà. Năm 39, Hai Bà Trưng bỏ tang phục khoác chiến y cờ tang điểm tướng cưỡi voi xung trận chống lại nhà Đông Hán, được cả ba quận Cửu Chân-Nhật Nam-Hợp Phố hưởng ứng. Năm 43 khi tướng Mã Viện đánh thắng Hai Bà một số cư dân ở lại đồng bằng về sau mang tên “Người Kinh”; một số bỏ lên rừng về sau mang tên “Người Mường” dù ban đầu Mường, Muang, M’wan, Mual, Mol là “người” không có nghĩa sắc tộc, và chỉ là “vùng” như Mường Thanh, Mường Luông, Mường Lam...

Cư dân lánh đi nhưng vẫn thấp thoáng bên giòng lịch sử. Người Pháp lưu lại hình ảnh noọng Mường hiếm quí trăm năm trước. Nhạc sĩ Tô Hải sống sót nhờ bài Nụ Cười Sơn Cước … “một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh." Nàng ở dãy núi Kim Bôi thuộc tỉnh Hòa Bình, địa bàn Mường lớn nhất cách Hà Nội 100 km.

 

Nàng Mường trăm năm trước (Pierre Dieulefils, Wikipedia)

 

Tộc Việt không hề bị Hán hóa, ngược lại…

Người Việt hay than thở chúng ta chia rẽ vì theo truyền thuyết “50 người xuống biển, 50 người lên núi.” Quên rằng một phần cư dân Hai Bà bỏ lên núi chính là bản lãnh của dòng Việt: không chịu nhục. Bản lãnh của người ở lại đồng bằng để sống còn: bị người Hán đô hộ, chịu đựng gian khổ, kiên nhẫn học tập, ngang tàng khởi nghĩa, đồng hóa sắc tộc khác, chào đón cư dân phương Bắc chạy trốn chiến tranh. Tộc Việt đã đồng hóa luôn cả “người Hán” thay vì bị người Hán đồng hóa như sử Việt, sử Tây, sử Tàu nhắc đi nhắc lại.

Chỉ một việc “Chia Tay” nói lên hai bản lãnh của một tộc người vào một thời điểm lịch sử vô cùng ngặt nghèo, nhờ thế mà có nước Việt ngày nay.

 

Ảnh tư liệu, Lễ Hai Bà 1961, Saigon (Wikipedia)

 

Âu-Lạc trùng phùng

Nhờ đọc chính sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Kỷ Nhà Lý, mới biết sau một ngàn năm kể từ Hai Bà, tộc Rồng từ miền biển “Tây tiến” lên non gặp tộc Tiên: tháng 7 năm 1010, nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên thành Thăng Long mở đầu “Âu-Lạc trùng phùng.”


Gả công chúa về vùng phên dậu

Năm 1029 trào đình nhà Lý khởi đầu “chính sự hôn nhân,” gả công chúa cho các châu mục, tù trưởng vùng trung du xứ Đông xứ Đoài (phía Tây) của Thăng Long.

Năm 1029, công chúa đầu tiên lên trung du là công chúa Bình Dương, vua Lý Thái Tôn gả cho châu mục Thân Thiệu Thái, châu Lạng Sơn (cách Hà Nội 154 km). Năm 1060, phò mã đô úy Thân Thiệu Thái vâng lệnh “bắt những binh lính bỏ trốn vào đất nước Tống, bắt được chỉ huy sứ là Dương Bảo Tài và quân lính trâu ngựa đem về.” Triều đình tin tưởng vào sự trung thành của phò mã và phò mã cũng không phụ lòng tin, tính đến thời điểm đó là 31 năm hôn phối.

Năm 1036, công chúa Trường Ninh theo chồng gần nhất, vua Lý Thái Tôn gả cho châu mục châu Thượng Oai, thời thuộc Hán gọi là Mê Linh, đất Hai Bà, cách Hà Nội 40 km.

Năm 1082, công chúa Khâm Thánh đi xa nhất, vua Lý Nhân Tôn gả cho Hà Di Khánh, châu mục châu Vị Long, Tuyên Quang, cách Hà Nội 166 km.

 

 “Tứ Trấn” thời 1427 - 1789 (Wikipedia)

 

Năm 1127, gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Duơng Tự Minh thuộc phủ Phú Lương, Thái Nguyên cách Hà Nội 80 km.

Năm 1144, gả công chúa Thiều Dung cho Duơng Tự Minh, phong làm Phò Mã Lang (không rõ trùng tên hay một Duơng Tự Minh được hai công chúa). Phò mã Dương Tự Minh giỏi từ đãi vàng đến kiểm soát các khe động biên giới.

Không chỉ gả công chúa lên trung du, trào đình cũng đón sơn nữ xuống đồng bằng. Năm 1033 Đào Đại Di ở châu Chân Đăng (Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ cách Hà Nội 79 km) tiến con gái, vua Lý Thái Tôn nhận làm hoàng phi.

 

Cần làm ra lẽ...

Hai Bà được cả ba quận Cửu Chân-Nhật Nam-Hợp Phố hưởng ứng vì trong suốt ngàn năm dù mang tên khác nhau (Di, Lão, Tày, Nùng, Man, Thái, Thổ, Mường) nhưng luôn ủng hộ lãnh đạo đồng chủng. Cư dân huyện Mê Linh thời đó là ai thì Hai Bà là người sắc tộc ấy: một đề tài cho các tiến sĩ ngành nhân văn có gốc nữ sinh Trưng Vương nghiên cứu. Xem xét nếu không có những cuộc hôn nhân trung du-đồng bằng, ảnh hưởng nhà Lý nhà Trần có ra khỏi Thăng Long? Cũng xem xét công chúa tay không mở cõi cùng phò mã làm phên dậu che chở Đại Việt, sao chính sử, ngoại sử, dã sử không ghi chép gì hơn? Phải làm gì để làm sáng đoạn sử ngày ấy ?

 

Lễ Hai Bà 17/3/2019, Westminster, California. (Ảnh: Hien Nghiem)


Có bao giờ ‘Chia Tay’?

Lịch sử cũng… di cư. Theo cô Jeanne Cuisinier (1890-1964) điền dã vùng Việt Bắc những năm 1940, nhiều bản Mường thờ An Dương Vương và Hai Bà. Trường Trưng Vương di cư vào Nam cũng nắm níu rước theo linh hồn Hai Bà. Không chỉ thế, sau biến cố 1975 phải rời đất nước, tại California mỗi năm vào tháng Ba, Hội Cựu Nữ Sinh Trường Trưng Vương gốc Saigon vẫn làm lễ giỗ Hai Bà như không có gì ngăn cách lòng tưởng nhớ tổ tiên.

Như không bao giờ “Chia Tay” cả.

(California, 17/3/2019)

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp