Font-Size:
Nghĩa trang Đồng Nhi
(VienDongDaily.Com - 19/08/2011)
Miền Trung mùa hè nắng sớm, chỉ nửa buổi là nóng rát da. Cùng mùa hè nhưng càng vô Nam càng đỡ, càng ra Bắc càng khắc nghiệt.
Bài và ảnh: Trần Công Nhung/Viễn Đông
Bé săn sóc bé
Miền Trung mùa hè nắng sớm, chỉ nửa buổi là nóng rát da. Cùng mùa hè nhưng càng vô Nam càng đỡ, càng ra Bắc càng khắc nghiệt. Không cứ gì thời tiết khí hậu mà ngay cả phong thổ, con người cũng khác nhau như vậy. Tôi còn nhớ mấy câu của cụ Huỳnh Thúc Kháng nói về tình người của mỗi miền:
“Bất giao Thừa Thiên chi hữu
Bất giá Quảng Ngãi chi thê
Bất đả Phú Yên chi kê
Bất thương Bắc Hà chi xứ” (1)
Cổng nghĩa trang
Tất nhiên đó là nhận định khái quát, miền nào thì cũng có kẻ dữ người hiền. Riêng Khánh Hòa như tên gọi, đúng là miền đất hiền lành, khí hậu ôn hòa quanh năm, bão lụt cũng nhẹ hơn các nơi khác. Nhưng con người thì sau 75 muốn không muốn vẫn chịu ảnh hưởng chung về tổ chức xã hội. Xã hội Việt Nam thì ngày nay có muốn che đậy cũng khó, cứ lên trang tin Yahoo VN thì muôn trùng chuyện để than phiền. Di chuyển dù chỉ trong địa phương nếu không bắt buộc cũng không nên. Nha Trang lên xã Vĩnh Ngọc không xa cũng dè dặt, thay vì đi sớm cho mát tôi phải đi trưa trưa, chờ bầu không khí tan bớt “độc hại”.
“Cha Mẹ xin lỗi con”
Đường vào xóm dừa Chợ Mới nay như khu phố thị trấn, đường bê tông nhà tầng hai bên, tôi cố nhận dạng, chẳng còn dấu tích gì của Chợ Mới trước đây. Ngày ấy xã hội còn kém “văn minh”, đường sá nhà cửa không “hoành tráng” như bây giờ, nhưng, phải công nhận, ra đường không ai phải bịt mặt dấu tên, đi đâu cũng không thập thò lo lắng, sợ kẻ gian đã đành, sợ luôn cả người ngay. Tuy vậy chẳng thấy ai than phiền. Có lần tôi nêu thắc mắc, sao đèn đỏ ngả tư mà người ta cứ chạy, một anh bạn trả lời cách tự nhiên: “Về đây ông đừng bày đặt thắc mắc vớ vẩn, ông mà nói có ngày ăn dao đấy. Thiên hạ sao mình vậy, không thích, đi chỗ khác chơi”. Tôi thấy thế thật. Ra đường ai cũng chen nhau chạy xe bên trái, lề phải bỏ trống, tôi hay nhắc các cháu học sinh hoặc bạn trẻ nên chạy vào bên phải thì bạn bè khuyên: “Kệ nó, đâu phải riêng bọn trẻ mà cả xã hội. Cứ im lặng mà sống, ông có của ráng mà giữ, mất chớ khai báo tri hô, ông có nghe tin bắt cướp nộp công an, công an thả, cướp vác dao đến chém người bắt cướp, đời này đừng dựa vào phải trái, liệu mà sống thôi ông ơi”. Từ đó tôi cũng quen dần và cũng bớt khó khăn với chính mình. Chẳng mấy chốc đã thấy cầu Ván, đúng là cầu Ván trước 75, cầu qua sông Cái, chiếc cầu gợi nhớ trong tôi biết bao kỷ niệm xa xưa. Đây là miền quê tôi hay chạy rong tìm hình ảnh đời thường thôn dã vào những ngày cuối tuần, thời bấy giờ người hiền cảnh nên thơ, đi đâu cũng không ngại.
Cầu Ván về NT ĐN
Qua cầu 2000 đồng. Cầu ván sơ sài, xe chạy, ván khua lạch cạch, chẳng may sút ván lọt cầu thì tự lo mà bò lên. Nghe nói năm nào cầu cũng bị lụt cuốn trôi. Bên kia cầu là một miền quê trù phú, vườn tược xác xơ trầm lặng. Theo chỉ dẫn của anh Phúc, tôi qua nhà thờ Phù Sa, thẳng ra dãy núi trước mặt, gặp một chị đàn bà xách giỏ, hỏi thăm, chị bảo chị cũng lên nghĩa trang. Thực ra chỉ thấy rừng bạch đàn chẳng thấy mồ mả, chẳng có đường ngõ báo hiệu vào nghĩa trang. Tôi theo chị leo từng bậc đá lên sườn đồi. Chừng 20 mét qua khỏi rừng bạch đàn mới thấy cổng nghĩa trang, cổng lưới lưới B40 đơn giản. Trong cổng ngay bên phải có một nền đá xây cao, có lan can chung quanh, là đền thờ nghĩa trang, phía trước có một chậu vuông lớn bề hơn 60cm để cắm nhang, có bảng ghi mấy chữ màu đỏ: “Cha mẹ xin lỗi con”. Mộ có hơi lạ, không giống mộ ở nghĩa trang thường thấy mà có dạng như từng luống rau xanh nối tiếp lên cao dần theo thế đất núi. Hình thức nghĩa trang ở VN thường tập trung theo hai tôn giáo chính: Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Dấu hiệu phân biệt là “thánh giá” và chữ “vạn”, còn mộ thì tôn giáo nào cũng tùy tiện xây, giàu mộ lớn, nghèo mộ nhỏ, kiểu cách chẳng khác gì nơi ở lúc còn sống, hoa văn màu mè, lại còn lầu hai, lầu ba, đã chết mà cũng còn ham sang giàu. Ngược lại, nghĩa trang thai nhi, hình thức đơn giản, trang nghiêm bình đẳng, màu sắc nhẹ, tươi vui. Từng “luống” mộ dài ngắn nối nhau. Trung bình mỗi “luống” có 4 hàng dọc, 20 hàng ngang. Mộ mỗi em lớn hơn cỡ tờ giấy đánh máy (A4), nấm mộ là bề dày chung của cả liếp mộ, cao khoảng 20cm. Mộ đặt theo hướng Bắc Nam, trên mặt có ghi số mộ (SM) ngày lập và nơi đưa về: BVT (Bệnh Viện Tỉnh), HD (Hoàng Diệu), LTP (Lê Thành Phương), tóm tắt trên mộ là như vậy, còn đầy đủ thì có sổ bộ riêng. Mỗi mộ có cắm cành hoa nhựa nhỏ, màu sắc đồng loạt theo từng luống.
Hàng hàng lớp lớp
Mộ theo thế đất núi cứ lên cao dần, nên rất khó đặt bước chân. Cắm hết nửa bó nhang chị đàn bà chia cho, người tôi ướt đẫm mồ hôi. Đặc biệt có một tháp trụ 4 tầng, như một chiếc bánh sinh nhật khổng lồ, chị quét mộ bảo mỗi tầng có nhiều hộc mộ, có trăm mộ trong đó. Lên trên nữa thì thấy có những ngôi mộ rời, lớn hơn, có nấm có nền.
Mộ hài và thai nhi
Lúc xuống tôi gặp anh Đông (nhà cạnh ngĩa trang) thường làm “công quả” việc chôn cất, anh cho biết những thai nhi đủ hình hài và do gia đình đưa đến thì chôn riêng, như những mộ trên cao. Mỗi khi chôn và xây những ngôi mộ như thế anh thường được thưởng công từ 500 nghìn đến một triệu hai. Anh Đông cũng là người phá đá núi để có mặt bằng cho nghĩa trang. Anh làm công mỗi ngày 100 nghìn. Tôi hỏi rõ hơn về việc chôn cất thai nhi:
- Như vậy mộ thai nhi ở đây hoàn toàn do ông Phúc lo?
- Dạ, thực ra là do nhiều người. Tôi là người phá đá lấy mặt bằng và chính ông Phúc trả tiền, tiền đâu thì tôi không biết. Lúc đầu có nhiều người cùng chung với ông Phúc gầy dựng nghĩa trang này, nhưng rồi không rõ lý do gì những người kia tách ra. Tuy vậy mộ ở đây không phải hoàn toàn mình ông Phúc chôn cất. Mà nhiều gia đình tự động đến chôn và mấy ông bà lúc đầu (ông Long, ông Mỹ, bà Liên, bà Kim Anh…) cũng thường đến chôn thai nhi. Khi có người bỏ thai nhi trước cửa nhà tôi, tôi cũng lo chôn cất tử tế, mình làm công quả mà. Tuy nhiên, về pháp lý thì chính quyền chỉ làm việc với ông Phúc mà thôi.
- Tại sao có một số mộ không ghi gì hết?
- Dạ do chính quyền gây khó khăn nên làm lén, chưa ghi được, nhưng trong sổ thì đầy đủ.
Có lẽ do điều kiện không cho phép nên mộ thai nhi ở đây kết thành liếp chung, trong khi ở nghĩa trang Anh Hài (Thừa Thiên Huế), mộ nhỏ nhưng riêng biệt, mỗi mộ có thánh giá riêng (ghi ngày tháng) có lối đi giữa các hàng mộ, thuận tiện việc thắp nhang thăm viếng. Nghĩa trang Đồng Nhi như đã nhận xét là nơi yên nghỉ của hài nhi không may, bất kể vùng miền giai cấp của người mẹ, đều bình đẳng, mỗi cháu đều nhận đồng đều sự săn sóc của những người thiện nguyện.
Ra khỏi nghĩa trang Đồng Nhi, tôi còn nghe văng vẳng lời ai ghi ở một nơi nào đó cũng tương tự như vầy:
“Con không có lời ru
Đưa con vào cuộc đời
Để con được làm người
Con không còn tiếng khóc
Chào đời như bao người.
Xin cho con ngọn nến,
Cho con một nén nhang
Cho lòng con được ấm
Lòng đất lạnh tình người.
Xin cho con cành hoa
Lời ăn năn dù đã muộn.
...
Xin hãy thương con, đừng bỏ con.
Con tội tình gì? Hỡi Mẹ! Hỡi Cha!…”
Tháng 7–2011
(1) Không chơi với bạn Thừa Thiên
Không lấy vợ Quảng Ngãi
Không đá gà Phú Yên
Không buôn bán với Bắc Kỳ
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 11, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc: Tran Cong Nhung, P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Điện thoại: (310) 978-4182. Email: trancongnhung@yahoo.com - Website: www.ltcn.net
Bài và ảnh: Trần Công Nhung/Viễn Đông
Nguồn: http://www.viendongdaily.com/nghia-trang-dong-nhi-mixeJrot.html