Bạn thích bài này?
Font-Size:
Ngôn ngữ ngoại giao của Trung Cộng đối với Việt Nam
(VienDongDaily.Com - 30/07/2011)
Nếu năm 1979, Đặng Tiểu Bình lớn tiếng “dạy cho Việt Nam một bài học” thì năm 2010 Dương Khiết Trì đến Hà Nội, thay mặt đảng Cộng Sản Trung ...
Nguyễn Thanh Liêm

Nếu năm 1979, Đặng Tiểu Bình lớn tiếng “dạy cho Việt Nam một bài học” thì năm 2010 Dương Khiết Trì đến Hà Nội, thay mặt đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhấn mạnh rằng bên cạnh 16 chữ vàng, quan hệ Việt – Trung còn tựa vững trên 4 mối tường quan “sơn thủy tương liên, văn hoá tương thông, lý tưởng tương đồng, mệnh vận tương quan”. Từ cái ngôn ngữ xấc xược, kẻ cả của Đặng Tiểu Bình đòi dạy cho VN một bài học, đến 16 chữ vàng êm ái “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” của Giang Trạch Dân, và 4 mối tương quan thật chặt chẽ “sông núi liền nhau, văn hóa thông nhau, lý tưởng cùng chung, vận mệnh liên hệ” của Hồ Cẩm Đào, mối bang giao giữa hai nước cộng sản anh em, láng giềng này như thế nào?
Liền sau khi Mao Trạch Đông chiếm toàn bộ Trung Hoa lục địa hồi năm 1949, Hồ Chí Minh đã gởi hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thụy sang Trung Hoa để xin viện trợ chống Pháp. Lúc đó Mao Trạch Đông đang ở Moscow. Lưu Thiếu Kỳ tiếp các đại diện. Theo lệnh của Mao, Lưu Thiếu Kỳ đánh điện tín cho Hồ Chí Minh hay là CHNDTQ (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) nhìn nhận nước VNDCCH (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và sẽ có viện trợ cho VN theo lời yêu cầu của Hồ Chí Minh. Ngày 18-1-1950 Trung Cộng là nước đầu tiên trên thế giới chánh thức nhìn nhận chánh phủ Cộng Sản Hà Nội. Hơn một tuần sau đó Hồ Chí Minh đích thân sang Bắc Kinh. Lưu Thiếu Kỳ tiếp đón và giúp phương tiện cho đi sang Moscow gặp Stalin, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai ở đó. Trong một bữa tiệc Hồ Chí Minh nói với Stalin với giọng nửa đùa là Stalin hãy ký hiệp ước với Việt Nam như Trung Hoa vậy, nhưng Stalin từ chối bảo rằng giúp CSVN (Cộng Sản Việt Nam) chống Pháp là việc của CSTH (Cộng Sản Trung Hoa). Ngày 17-2-1950 Hồ Chí Minh theo Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trở về Trung Quốc. Các buổi hội họp với nhóm lãnh đạo Cộng Sản ở Bắc Kinh đưa đến những quyết định quan trọng về viện trợ cho CSVN. Một trường huấn luyện quân sự sẽ được thiết lập để đào tạo cán bộ quân sự cho CSVN, nhiều cố vấn quân sự Trung Quốc sẽ được gởi sang Bắc Việt. Từ tháng 4 đến tháng 9 năm đó (1950) CSTH đã viện trợ cho CSVN 14.000 súng cá nhân, 1.700 súng máy, 150 súng cối, 60 trọng pháo, 300 baazookas, 2.800 tấn thực phẩm, một số dụng cụ truyền tin, rất nhiều thuốc men, quần áo cùng những quân trang, quân dụng khác. Đây chỉ là bước đầu. Viện trợ của CSTH cho CSVN về sau càng tăng nhiều trong thời gian chống Pháp cũng như trong những năm chống Mỹ sau nầy.
Tại sao Mao Trạch Đông sốt sắng giúp CSVN như vậy? Trước nhất phải kể yếu tố cá nhân. Hồi đầu thập niên 1920 khi còn hoạt động trong đảng Cộng Sản Pháp, Hồ Chí Minh đã từng gặp gỡ một số nhà lãnh đạo CSTH trong đó có Chu Ân Lai. Năm 1924 Hồ Chí Minh được Cộng Sản Quốc Tế gởi từ Moscow sang Quảng Châu để hỗ trợ cho Borodin trong việc giúp đỡ cách mạng Trung Hoa. Một số lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc đã biết Hồ Chí Minh từ thời đó. Sự quen biết cá nhân làm cho sự bang giao lúc đầu được dễ dàng. Tuy nhiên lý do cá nhân tuy có nhưng không phải là lý do chính yếu quyết định sự sốt sắng viện trợ của Trung Quốc. Lý do quan trọng hơn là sự an ninh của Trung Hoa. Vùng biên giới Việt Hoa là một trong ba vùng biên giới có thể bị Mỹ dùng để tấn công Trung Quốc. Hai vùng biên giới kia là Triều Tiên và Đài Loan. Mặt khác vùng biên giới Việt Hoa còn làvùng trú ẩn và hoạt động của tàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa. An ninh biên giới ở đây rất quan trọng đối với vấn đề quốc phòng của CSTQ. Thành ra giúp Bắc Việt là một hình thức bảo vệ an ninh cho Trung Quốc vậy. Lý do an ninh tuy có quan trọng nhưng cũng không quan trọng bằng tham vọng nắm bá quyền Á Châu của Cộng Sản Trung Hoa, nhất là của Mao Trạch Đông. Các học giả, sử gia nghiên cứu về lịch sử CSTQ đều nhìn Mao Trạch Đông như một nhà vua, một Thiên Tử của Trung Quốc với quyền hạn và sự độc tài không thua gì Tần Thủy Hoàng và các vua chúa thời đế quốc Trung Hoa. Mao Trạch Đông biết nhiều về sử Trung Hoa, mang trong tâm hình ảnh của một nước Trung Hoa vĩ đại với một biên cương vô cùng rộng lớn, với một dân số mấy trăm triệu, với một nền văn minh cao nhất thế giới từ xưa. Nước Trung Hoa đó đã bao lần làm bá chủ cả một vùng mênh mông mà các nước láng giềng chung quanh đều phải phục tùng. Việt Nam xưa là một chư hầu của Trung Quốc, hằng năm triều cống cho Trung Quốc, có việc khó khăn thì sang Trung Quốc cầu viện. Giúp cho Việt Nam thì cũng như giúp đỡ một nước chư hầu. Tình hữu nghị, sự hòa mục mà Mao Trạch Đông dành cho CSVN không tựa trên nguyên tắc độc lập bình đẳng mà tựa trên nguyên tắc bất bình đẳng, tùy thuộc như chính quốc với chư hầu, hay quốc gia lãnh đạo với quốc gia bị lãnh đạo vậy.
Tham vọng làm bá chủ được che đậy dưới chiêu bài giúp đỡ các nước nhỏ, kém mở mang làm cách mạng chống đế quốc thực dân. Mao Trạch Đông muốn lấy cách mạng Trung Quốc cùng CSTQ làm khuông mẫu cho các nước khác ở Á Châu như Việt Nam, Miến Điện, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai.... Mao Trạch Đông vận động với Cộng Sản Nga Sô cho có sự thỏa thuận để CSTQ lãnh đạo các cuộc cách mạng vô sản ở vùng Đông Á. Trung Cộng sẵn sàng viện trợ cho các nước kém mở mang trong công cuộc cách mạng chống xâm lăng. Viện trợ cho nước nào thì được thêm nước đó tùy thuộc vào mình, có thêm đồng chí và có thêm chư hầu.
Với chính sách đối ngoại tựa trên những yếu tố trên đây tình hữu nghị Hoa Việt chỉ tốt đẹp được khi nào CSVN đi theo đúng đường lối CSTQ đã vạch sẵn, nghĩa là phải đóng trọn vai trò một kẻ bị lãnh đạo, một chư hầu. Nếu đi chệch ra là tình hữu nghị sẽ bị sứt mẻ. Trên đường dài, dù có ngoan ngoãn đến đâu cũng không tránh khỏi những khúc quanh co khiến cho tình hữu nghị khó êm xuôi tốt đẹp mãi. Bên trong về lâu vẫn có những mâu thuẫn, những xung đột khơi mầm. Sự nghi kỵ bắt đầu có từ hội nghị Genève khi Trung Quốc thấy ý đồ của Việt Nam muốn lãnh đạo Miên Lào, muốn làm bá chủ Đông Dương. Trung Quốc không bao giờ để cho chuyện đó xảy ra bởi vì Á Châu chỉ có một lãnh tụ mà thôi, và lãnh tụ đó phải là Trung Quốc. Tuy nhiên sự nghi kỵ đó chưa đủ mạnh để đưa đến sứt mẻ. Vả lại Trung Quốc đã bắt tay với Lào và Miên để dần dần đưa ảnh hưởng Trung Hoa vào hai vương quốc nhỏ bé nầy.
Đến giữa thập niên 1960 mặc dù Trung Cộng tăng viện nhiều cho CSVN để đương đầu với sự đổ quân vào miền Nam của Mỹ nhưng tình hữu nghị lại càng sứt mẻ nhiều hơn ở bên trong. Lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa bảo là 130.000 quân Trung Quốc sang giúp Bắc Việt bị đặt trong tình trạng rất là khó xử. Cộng Sản Hà Nội chỉ muốn đám quân nầy giúp việc làm đường sá, sửa chữa cầu cống và chống phi cơ Mỹ mà thôi chớ không được gần gũi dân chúng. Đoàn quân y Trung Quốc không được chữa bệnh cho dân. Những bản tin và các tài liệu viết bằng tiếng Việt về sự thành công về kinh tế của Trung Quốc không được phép phổ biến trong dân chúng. Cùng lúc đó các cơ quan truyền thông của Cộng Sản Việt Nam thường xuyên nhắc lại các cuộc xâm lấn cũng như những công cuộc kháng chiến của người Việt chống lại sự xâm lăng đô hộ của Trung Quốc trước kia. Đặng Tiểu Bình rất bực bội về thái độ trên đây của CSVN mà họ Đặng cho là vong ân bội nghĩa. Trong buổi gặp gỡ ở Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình chất vấn Lê Duẩn :”Có phải các đồng chí nghi ngờ chúng tôi vì chúng tôi quá sốt sắng không? Trung Quốc có xâm chiếm Việt Nam không? Chúng tôi muốn nói thẳng với các đồng chí rằng chúng tôi không có ý định đó”. Lê Duẩn bảo đảm với Đặng Tiểu Bình rằng Hà Nội rất biết ơn sự giúp đỡ của Trung Quốc, rằng Trung Quốc càng sốt sắng chừng nào thì càng có lợi cho Hà Nội chừng nấy. Lê Duẩn nói thêm: “Sự sốt sắng giúp đỡ của Trung Quốc đã giúp CSVN cứu được mạng sống của hai hay ba triệu người”. Lúc nầy CSVN cũng đã nhận được viện trợ của Liên Sô. CSVN càng gần Liên Sô chừng nào càng làm cho Trung Quốc lo sợ nhiều chừng nấy. Nếu Bắc Việt trở thành đồng minh của Liên Sô thì nền an ninh của Trung Quốc sẽ bị đe dọa nặng nề. Trung Quốc sẽ bị bao vây từ nhiều phía.
Bang giao Trung Hoa – Việt Nam càng tồi tệ hơn vào trong thập niên 1970 khi Nixon thăm viếng Bắc Kinh và bang giao Trung Quốc – Hoa Kỳ có chiều hướng nối lại. Đích thân Lê Duẩn nói thẳng với Mao Trạch Đông là đừng nên tiếp Nixon, đừng nên đi với Mỹ. Việc Trung Quốc muốn bắt tay với Mỹ làm cho Cộng Sản Bắc Việt càng muốn đền gần với Liên Sô hơn. Thêm vào đó vấn đề Kampuchia càng làm cho sự mâu thuẫn giữa CSVN và CSTQ lớn dần. Tuy vậy CSVN vẫn phải chiều chuộng bậc đàn anh Trung Quốc vì Hà Nội vẫn cần rất nhiều viện trợ của Bắc Kinh. Cho nên năm 1974 khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa trước sự chống trả mãnh liệt của Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt chỉ biết im hơi lặng tiếng.
Tháng 9 năm 1975 sau khi đã chiếm hết miền Nam, Lê Duẩn có dẫn một phái đoàn viếng thăm Trung Quốc. Tiếp Lê Duẫn, Mao Trạch Đông bảo :”Bây giờ các đồng chí không còn là những người nghèo nhất thế giới nữa. Chúng tôi là những người nghèo nhất. Chúng tôi có dân số 800 triệu người”. Lời nói của Mao Trạch Đông là lời nhắn bảo Lê Duẩn đừng nên cầu xin viện trợ của Trung Quốc nữa. Cũng trong dịp nầy Đặng Tiểu Bình cho Lê Duẩn thấy thuyết mới về ba thế giới của CSTH. Họ Đặng chia các nước trên thế giới ra làm ba loại: loại một là các siêu cường gồm có Nga và Mỹ, loại hai là các nước tư bản yếu hơn gồm các nước Âu Châu và Nhật Bản, loại ba là các nước kém mở mang trong đó có Trung Quốc. Thuyết nầy kêu gọi các nước thuộc loại hai và ba hãy liên kết chặt chẽ với nhau để chống lại các siêu cường mà nguy hiểm nhất là Nga Sô. CSVN cho rằng thuyết ba thế giới của Đặng Tiểu Bình cho thấy Trung Quốc không còn là một nước theo chủ nghĩa xã hội nữa mà là một nước đi lệch vào thế giới tư bản. Trong phiên họp ngày 29-9-1975, Đặng Tiểu Bình tỏ thái độ tức giận về những lời lẽ chống đối Trung Quốc của giới truyền thông của CSVN khi giới nầy đề cập đến mối đe dọa từ phương Bắc. Đặng Tiểu Bình nói với Lê Duẩn rằng mối đe dọa từ phương Bắc của Trung Hoa là sự hiện diện của quân đội Liên Sô ở ngay biên giới giữa hai nước, còn đối với Việt Nam thì đó là mối đe dọa của Trung Quốc. Lê Duẩn chối bỏ nhận định đó của giới truyền thông. Dù vậy sự sứt mẻ đã đến mức độ không còn hàn gắn được. Phái đoàn CSVN ra về không có thông cáo chung của hai nước.
Năm 1978 Trung Quốc hủy bỏ ba dự án viện trợ cho Hà Nội ngay sau khi CSVN được Nga Sô giúp gia nhập khối kinh tế Âu Châu thân Nga (COMECON). CSVN cũng ký kết hiệp ước hợp tác với Nga Sô trong lãnh vực an ninh. Hiệp ước cho phép Nga Sô sử dụng các phi trường và căn cứ hải quân Cam Ranh. Ngược lại Nga Sô bảo đảm viện trợ kinh tế và quân sự cho CSVN trong cuộc chiến ở Cam Bốt. Đây là mối đe dọa lớn cho Trung Quốc. Cũng trong năm nầy CSVN thực hiện chính sách trục xuất người Hoa Kiều ra khỏi Việt Nam khiến Trung Quốc mạnh mẽ lên tiếng cáo buộc CSVN đã đối xử tàn tệ với cộng đồng người Hoa Kiều.
Xâm lăng Cam Bốt, đi theo Nga Sô, bạc đãi người Hoa đó là ba cái tội mà Đặng Tiểu Bình quyết định phải “dạy cho Việt Nam một bài học”. Ngày 17-2-1979 200.000 quân Trung Cộng tràn qua biên giới đánh vào Bắc Việt. Ba tuần lễ sau, ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân vì mục tiêu đã đạt, để lại sau lưng không biết bao nhiêu bãi mìn. Các cuộc hội đàm diễn ra sau đó không đem lại kết quả gì, rốt cuộc phải bỏ dở vào tháng 12 năm nầy. Vấn đề Cam Bốt cũng không giải quyết được. Việt Nam vẫn phải cần viện trợ của Liên Sô. Trung Cộng vẫn đóng quân dài theo biên giới HoaViệt. Vào mùa khô mỗi khi CSVN tấn công quân Pol Pot ở biên giới Thái Miên thì quân Trung Cộng làm áp lực mạnh trên biên giới Hoa Việt. Trung Quốc còn đe dọa sẽ cho Việt Nam một bài học nữa vào năm 1986 nhưng bài học nầy không thực sự xảy ra. Dù sao thì sự căng thẳng ở biên giới Hoa Việt cũng đưa tới nhiều cuộc đụng độ lẻ tẻ trong năm 1987. Ngày 14-3-1988 hải quân Trung Quốc lại tấn công hải quân CSVN ở Trường Sa gây tử thương cho 72 thủy thủ đoàn và làm chìm ba chiến hạm.
Bang giao Việt Trung trở nên tốt đẹp hơn trong thập niên 1990 khi nhà cầm quyền Hà Nội bắt đầu thần phục Cộng Sản Trung Quốc. Cộng Sản Hà Nội đi vào quỹ đạo của Bắc Kinh, đưa đến những hiệp ước thiệt thòi, bất bình đẳng về lãnh thổ và lãnh hải hồi năm 1999 và 2000. Trong tạp chí Cộng Sản số 2 tháng 1 năm 2000, Thứ Trưởng thường trực Bộ Ngoại Giao CSVN là Vũ Khoan viết: “Ngày 30-12-1999, ngay bên thềm của năm mới, tại Hà Nội đã diễn ra một sự kiện quan trọng được dư luận cả nước và thế giới quan tâm: đó là Hiệp ước trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết”. Theo Vũ Khoan thì nhân dịp Đỗ Mười thăm Trung Quốc năm 1997 và Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc năm 1999, “lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước đã thỏa thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền trước năm 2000”. Điều nầy cho thấy áp lực từ bên trên để phải đi đến ký kết hiệp ước trong thời hạn ấn định.
Một năm sau cũng trên tạp chí Cộng Sản, số 2 tháng 1 năm 2001, Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng của CSVN cũng nói là nhân chuyến thăm chính thức của Chủ Tịch Trần Đức Lương, ngày 25-12-2000, nước ta và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ. Cả Vũ Khoan lẫn Lê Công Phụng đều kết luận là các hiệp ước nói trên có tầm quan trọng lớn lao, rất có lợi cho Việt Nam và cho mối bang giao Việt - Trung theo đúng tinh thần “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” mà các nhà lãnh đạo Cộng Sản của hai nước đã đề ra. Một bảng thông cáo chung cũng đã được Bộ Ngoại Giao Trung Quốc phổ biến nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của Trần Đức Lương. Bảng thông cáo mở đầu bằng câu “CHNDTQ (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) và CHXHVN (Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam) là hai nước xã hội láng giềng đã có truyền thống bang giao hữu nghị lâu dài. Trong năm thập niên qua, kể từ ngày liên hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập, mối bang giao Hoa Việt luôn luôn thắt chặt và phát triển”. Bảng thông cáo chung còn cho biết lãnh đạo của hai nước sẽ tiếp tục phát triển liên hệ hợp tác hữu nghị trên căn bản của các nguyên tắc độc lập, đầy bình đẳng (full equality), tin nhau, và không can thiệp vào nội bộ của nhau. Thật sự thì sự bang giao giữa hai nước có được hòa mục hữu nghị và tựa trên nguyên tắc độc lập, hoàn toàn bình đẳng như bảng thông cáo chung đã nói không?
Thập niên 2000 cho thấy bản đồ hình chữ U với chín đoạn, mà người ta quen gọi là hình lưỡi bò, của Trung Cộng vẽ ra trên bản đồ Biển Đông để tuyên bố chủ quyền của TQ trên lưỡi bò đó. Có nghĩa là Trung Cộng ngang nhiên dành chủ quyền trên 80% Biển Đông, xem Biển Đông như cái ao nhà của mình, bất kể sự phản đối của những nước khác ở Đông Nam Á. Tàu Trung Cộng săn đuổi, bắt bớ không cho ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng này, đe dọa các công ty dầu hỏa Âu Mỹ hoạt động trong vùng, gây áp lực nặng nề trên lãnh hải Việt Nam. Trên đất liền, Trung Cộng tung tiền thầu nhiều dự án, quan trọng nhất là bauxite Tây nguyên, để đưa người sang thiết lập những làng người Hoa trên đất Việt với mưu đồ Hán Hoá những nơi này. Trung Cộng dùng kinh tế, chính trị chi phối việc cai trị Vi ệt Nam, biến Việt Nam thành một nước chư hầu hay một tỉnh của TQ.
Trước những sự gây hấn, hung hăng của Trung Cộng, CSVN đã phản ứng một cách yếu ớt. Năm 2010, là năm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Nông Đức Mạnh theo đề nghị của Hồ Cẩm Đào lấy năm này làm năm Hữu Nghị Việt-Trung. Thật là mỉa mai cho ý nghĩa ca ngợi thế độc lập của 1000 năm Thăng Long. Ngoại Trưởng Phạm Gia Khiêm sang Bắc Kinh để cùng ngoại trưởng Trung Quốc bàn về những hoạt động trong năm hữu nghị Việt – Trung 2010. Hai ông này tỏ vẻ thích thú khi thấy mỗi năm có hơn một trăm đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm Trung Quốc (để học hỏi, nhận lãnh chỉ thị?). Gần đây nhất sau sự việc Trung Cộng cho tàu vào cắt đứt dây cáp của các tàu nghiên cứu Bình Minh 2 và Viking 2, và sau sự lên tiếng phản đối lấy lệ, Việt Nam đã phải sai Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc để nhận chỉ thị làm êm dịu tình hình. Kết quả là các cuộc biểu tình chống xâm lăng Trung Quốc ở Hà Nội bị thẳng tay đàn áp.
Ngôn ngữ ngoại giao của Trung Cộng vẫn là 16 chữ vàng, kèm thêm 4 tốt, và tựa trên nền tảng vững chắc của 4 mối tương quan. Dưới ngôn ngữ ngoại giao tốt đẹp đó là những đe dọa, những chỉ thị, những hành động hung hăng, những bành trướng xâm lăng, đưa Việt Nam đi vào vòng Bắc Thuộc. - (NTL)

Vận Nước – Lòng Dân
Mỗi Thứ Bảy & Chủ Nhật

Với sự cộng tác của

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm, cựu Thứ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thanh Liêm, chuyên viên Liên Hiệp Quốc TS. Đinh Xuân Quân, nhà báo Đinh Phụng Tiến, nhà văn Trần Phong Vũ, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhà báo Lê Hồng Long, GS. Ngô Đức Diễm, Thẩm Phán Đặng Đình Long, GS. Lê Hồng, TS. Mai Thanh Truyết, TS. Lê Minh Nguyên, nhà báo Huỳnh Quốc Bình, nhà thơ Huy Trâm, cựu Dân Biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng.

Điều hợp bởi nhà báo Võ Long Triều.

Ý kiến bày tỏ trên “Vận Nước – Lòng Dân” nói riêng và trên trang Diễn Đàn nói chung không phản ảnh quan điểm của ban chủ biên nhật báo Viễn Đông.




Nguồn: http://www.viendongdaily.com/ngon-ngu-ngoai-giao-cua-trung-cong-doi-voi-viet-nam-QM273cC3.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo