advertisements
Thursday, 15/04/2021 - 07:50:14

Những người thiểu số lưu lạc đồng bằng


Không phải phụ nữ miền cao nào cũng có cơ hội bán được bó rau, ký trái để giúp gia đình. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

 

Bài NGUYÊN QUANG

Tôi đã gặp rất nhiều người, họ từ các buôn làng hẻo lánh nơi núi rừng, xuôi xuống đồng bằng đi tìm việc làm, kiếm cơm độ nhật, cuộc sống của họ lây lất và bầm đen, nỗi buồn của họ lấm lem bùn đất và mồ hôi muối, ánh mắt của họ tuy cười nhưng vẫn phảng phất cái ưu tư của một cuộc đời heo hút, bất định… Họ là những người Kdong, Dẻ Triêng, Tày, Mường, Nùng, Thái, Dao, Hmong, Ê Đê, Raglai… Họ không có cơ hội ở đồng bằng cho mấy, trong lúc đại ngàn nổi giận và sự co cụm của họ cũng đã đến mức cuối cùng. Đại ngàn của các tộc người thiểu số bây giờ chỉ còn là một khoảnh rừng nhỏ, không hơn không kém!


Có cái nắng, có cái gió nhưng không có cái chó chi mà ăn



Nhà của người thiểu số bây giờ đa số đều lợp tôn. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Hrag Ka, một người E Đê, sống ở ngoại ô thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắc Lắc, chia sẻ, “Bây giờ ở đây, Tây Nguyên này, chỉ còn có cái nắng, có cái gió những chẳng có cái chó chi mà ăn đâu!”

“Vì thất nghiệp hả anh?”

“Ồ không, tụi mình đi lao động làm thuê, làm tất tần tật công việc thì đâu có sợ thất nghiệp, rảnh thì đi làm rừng, có ai kêu thì đi làm. Quanh năm suốt tháng làm quần quật mà vẫn cứ đói.”

“Có phải do thiên tai không anh?”

“Ồ bậy nà! Thiên tai thì có bao nhiêu đâu, nhân họa mới đáng nói chớ. Mình sống mấy chục đời trên đất này, hồi xưa làm gì có lũ lụt gớm ghiếc vậy, giờ mới có thôi! Do thủy điện, hồ chứa thủy lợi, rồi phá rừng. Ngày xưa ở đây rừng bạt ngàn, giờ còn rừng rúi chi đâu nữa. Mình đi kiếm cây củi về chụm nó cũng bắt, vậy mà nó cưa rừng ngày đêm có ai nói gì đâu!”


Một bó củi hiếm hoi giữa thành phố Lạng Sơn. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Nhà của mình lợp tôn và xây gạch, như vậy rất là nóng so với nhà gỗ trước đây. Anh ưa nhà bê tông hay sao vậy?”

“Đâu có, nhà bê tông rẻ, mình đổ đại mấy cây trụ, rồi làm sàn, lợp tôn. Chứ giờ làm gì có gỗ mà làm nhà sàn gỗ. Ngày xưa ông bà mình tự đi tìm gỗ rừng về mà làm nhà sàn, giờ cấm rừng rồi, mình phải xuống dưới thị trấn mà mua xi măng về làm nhà sàn thôi!”

“Hằng ngày anh làm việc ở đâu và làm nhà có bị nợ nần không anh?”

“Có chớ, ông bà mình nói, một năm làm nhà, ba năm trả nợ mà lại. Cái nhà này làm tốn gần năm chục triệu đồng (tương đương $2,300), chủ yếu là vay mượn bà con, họ hàng, tôi làm bốn năm trước, bữa nay vẫn còn nợ một ít đó chớ. Lẽ ra trả nợ lâu rồi, nhưng mình mượn vàng, chỗ mấy chỉ vậy đó, vàng tăng giá liên tục, nên nợ kéo dài…”


Không phải phụ nữ miền cao nào cũng có cơ hội bán được bó rau, ký trái để giúp gia đình. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Anh có hay xuống đồng bằng làm thuê không?”

“Có chớ, nhưng cơ hội làm việc của mình dưới đó ít lắm, vì mình quen núi rừng, cách làm việc của mình không được vừa ý chủ. Hơn nữa, mình khét nắng kinh niên, người đồng bào mình ai cũng bị chứng khét nắng, mình quen mùi với nhau thôi, chớ xuống đồng bằng họ chịu không nổi, họ từ chối khéo. Mà mình có tắm rửa gì rồi cũng khét nắng. Xài xà bông loại xịn thì tốn tiền quá, mà vẫn bị khét nắng.”

Nỗi khổ do “khét nắng” của Hrag Ka khiến tôi nhớ đến một thầy giáo tên Quyết, vừa qua đời ở Quảng Nam. Thầy Quyết người Kdong, sống ở huyện Hiệp Đức, một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, thầy tốt nghiệp ngành sư phạm, có lẽ thuộc loại giỏi, xuôi xuống đồng bằng để dạy hợp đồng. Nhưng kết cục của thầy thật là buồn thảm, không thể buồn hơn.


Một người phụ nữ bán giác trầm ở Hội An, Quảng Nam. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Thầy Quyết nhận dạy hợp đồng ở một trường tiểu học miền xuôi, mức lương mỗi tháng hai triệu rưỡi đồng (tương đương $110 USD), không có phụ cấp và bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bởi hợp đồng của thầy ký theo năm. Vấn đề giọng nói, phát âm của thầy là cả một trở ngại, thầy bị bệnh tim kinh niên nhưng vẫn cố gắng vượt qua. Thường, mỗi khi leo cầu thang, thầy phải dừng lại để thở ở các sảnh chờ. Thầy thiếu thốn mọi thứ, nợ tiền trọ liên miên…

Những tháng gần đây, thầy chịu hết nổi, đi khám bệnh, bác sĩ cho biết phải phẫu thuật ngay, nghiệt nỗi, gia đình quá nghèo khổ, với thầy, việc xuống đồng bằng dạy là tìm cơ hội đổi đời. Trong lúc thầy bệnh thì phụ huynh lên tiếng, phản đối việc nhà trường duy trì thầy mà phải đổi giáo viên khác. Kết quả, thầy bị cắt hợp đồng trong lúc lâm bệnh, thầy về quê với món nợ hai triệu đồng tiền quĩ lớp. Bởi thầy đã dùng nó cho việc đi khám chữa bệnh và chưa thể bù tiền lương vào. Về quê chưa đầy một tháng thì thầy đột tử bởi một cơn nhồi máu. Mọi chuyện kết thúc như một cuốn phim buồn.


Nhiều người thiểu số xuôi về đồng bằng tìm đủ thứ việc, từ chạy bàn, rửa chén, đào vàng, bốc vác thuê. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Buồn vì nghèo, buồn vì tương lai đóng cửa ngay trước mặt, ngay lúc ngặt nghèo nhất, buồn vì đến khi chết vẫn còn nợ, nợ cha mẹ, nợ nhà trọ, nợ học trò… Tương lai của thầy Quyết khép lại một cách bất ngờ nhưng không bất thường, bởi dường như định số của người nghèo, nhất là người nghèo miền núi, thuộc đồng bào thiểu số bao giờ cũng đầy bất trắc và tủi khổ!


Lang thang tìm việc, đói, buồn và điểm cuối là đào vàng


Hầu hết các mỏ vàng ở miền Trung, mỏ khoáng sản, quặng ở miền Bắc đều tuyển người lao động thuộc tộc người thiểu số. Bởi chỉ có người thiểu số mới chịu cực, chịu độc hại, chịu mọi thứ khổ ải để kiếm đồng lương mà không đòi hỏi gì.

Hầu Phéng, một thanh niên đến từ Simacai, Lào Cai, làm nghề đào vàng thuê ở Phước Sơn, Quảng Nam, chia sẻ, “Chỉ có đào, đãi vàng thuê mới giúp em làm nhà được. Ở ngoài em, nếu không trồng thuốc phiện thì đi buôn lậu hoặc đi thồ hàng cửa khẩu (Việt - Trung) hoặc đi đào vàng thuê trong miền Nam. Chứ làm nông thì không bao giờ đủ sống, còn làm thuê các việc khác cũng vậy, lây lất qua ngày thôi.”


Không phải người thiểu số nào cũng kiếm được công việc nơi phố thị. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Đào vàng khá hơn các công việc khác nhưng có nguy hiểm không em?”

“Dạ có chứ, đào vàng mà nhỡ sụp hầm thì chết chùm. Được cái là ban ngày chui xuống hầm, đào mãi cho đến tối thì lên. Dưới hầm người ta bơm oxy xuống, nếu cái máy bơm mà hỏng trên này thì dưới đó cũng chết chùm. Thường thì chủ vàng họ có hai cái máy để thay nhau bơm. Và nếu có trục trặc là họ báo động cho mình. Làm vàng nghĩa là trả được nợ cho vợ con.”

“Nợ gì vậy em?”


Việc dựng cái nhà ngày càng trở nên khó khăn với người thiểu số. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Nợ làm chồng, làm cha, người Hmong của em có câu nói làm thằng đàn ông thì phải dựng cái nhà cho vợ con ở. Nếu cưới vợ mười năm mà không thực hiện được câu nói này thì chưa phải đàn ông Hmong. Chính vì vậy mà hầu hết đàn ông tụi em phải bằng cách này hay cách khác mà có cái nhà cho vợ con. Người nào may mắn thì có việc nhẹ, người không có chữ nghĩa như em thì làm việc nặng. Đi đào vàng. Đào vàng dễ bị khí độc, chừng mười năm thì sức khỏe xuống hẳn. Nhưng được cái trong mười năm đó, mình đã xây được cái nhà cho vợ con nó ở!”

“Nếu xây được nhà mà để vợ con cô đơn thì đâu có tốt gì? Hơn nữa sau đó bịnh tật thì sao?”

“Biết là vậy. Nhưng dù sao cũng có cái nhà, cũng trả món nợ cho vợ con. Còn sau này, may mắn sống sót, bịnh tật một chút thì mình làm những việc nhẹ, đủ sống, đủ ăn ngày ba bữa là được mà anh! Cuộc đời đâu phải ai cũng may mắn. Các anh ở đồng bằng, thành phố, dễ sống, chứ tụi em ở núi rừng, mà bây giờ núi rừng cũng như thị trấn thôi, mọi thứ đều phải mua, gỗ làm nhà cũng phải mua chứ đâu như trước đây lên rừng mà đốn về làm. Nên giờ sống ở rừng sẽ đói, khổ, chỉ có gia đình nào may mắn được đền bù giải tỏa, có chút tiền cầm tay. Nhưng rồi cái chút tiền cầm tay đó cũng mau chóng bay đi bởi đâu có ai ngồi mà ăn cho lâu được, mà tiền lớn vào nhà khó chẳng khác gì gió bão, cuốn bay tất tần tật…”


Đi đâu cũng thấy cảnh núi rừng bị xẻ thịt. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Người ngoài chỗ em đi vào đây đào vàng nhiều không?”

“Dạ nhiều chứ, hầu hết các mỏ vàng lậu ở đây đều do người đồng bào thiểu số tụi em làm công nhân. Tụi em được cái thật thà, không trộm cắp, cũng giỏi chạy đường rừng khi bị phát hiện, vì tụi em quen với đường rừng mà!”

“Đào như vậy có hay bị rượt không em?”


Một tiệm bán đồ gỗ ở Hải Phòng. (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

“Dạ, bị công an phục kích rượt hoài à. Nhưng sau đó chủ thuê lại tìm cách mua đường để tụi em đào, thực ra nhìn mỏ vàng qui mô như vậy nhưng là mỏ đào trộm đó. Rừng núi bây giờ, ngoài chuyện cưa cây, chặt phá rừng của lâm tặc thì có vàng tặc khoét rỗng cả núi như vậy, không bị sạt lở núi mới là chuyện lạ. Chứ còn sạt lở, vỡ núi thì tụi em thấy từ lâu rồi. Mọi thứ bị phá nát hết…”

“Em làm nhà chưa?”

“Dạ, cuối năm nay em về làm nhà, nói anh mừng là nhóm tụi em có sáu đứa, đứa nào cũng định cuối năm nay về làm nhà. Đi làm ngót nghét mười năm, giờ về làm cái nhà là mừng. Chỉ hơi nơm nớp chút chỗ ông chủ, lỡ ông bị công an bắt hoặc đình trệ công việc thì tụi em chỉ đủ tiền xe mà về, lúc đó lại khó khăn hơn…”


Khi voi rừng hóa thành tượng đá du lịch... (Nguyên Quang/ Viễn Đông)

Làm thuê mười năm, tích lũy được chín năm lương, chờ năm thứ mười nhận lương cuối năm về làm nhà. Nhưng vẫn nơm nớp lo vào chủ… Cầu nguyện em làm được nhà! Dù sao thì em vẫn may mắn hơn rất nhiều những người thiểu số đi làm thuê ở đồng bằng. Nhưng bù vào đó, sức khỏe của em là một ẩn số, cái ẩn số của thân phận người Việt thiểu số, thật là buồn!

Viết bình luận đầu tiên
advertisements
advertisements
advertisements
Bình luận trên Facebook
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements
advertisements