Font-Size:
Những trang sử đầy máu và nước mắt của Ấn Độ
(VienDongDaily.Com - 06/09/2011)
Giở lại trang lịch sử của Ấn Độ, vua Asoka đã áp dụng nền tảng đạo đức trong việc cai trị đất nước. Suốt cuộc đời ông tận lực mở mang bờ cõi, giúp nhân dân có cuộc sống hòa thuận, an bình.
Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông
Phế tích ngôi đền Krishna ở Hampi, vương quốc Vijayanagara, hình chụp năm 1868
của nhiếp ảnh gia Edmund David Lyon.
Giở lại trang lịch sử của Ấn Độ, vua Asoka đã áp dụng nền tảng đạo đức trong việc cai trị đất nước. Suốt cuộc đời ông tận lực mở mang bờ cõi, giúp nhân dân có cuộc sống hòa thuận, an bình. Ông rất mộ Đạo Phật và chính ông đã bành trướng đạo giáo này trên khắp lãnh thổ Ấn và lan tràn cả sang đảo Tích Lan, Ai Cập, Hy Lạp, Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ và cả Nhật Bản. Tuy nhiên, vì cố chấp và có tính tự cao tự đại, ông đã dùng chính sách chuyên chế, để duy trì nền kỷ cương đó. Do vậy, cả con cháu, cùng một số đông dân chúng đã tỏ lộ bất mãn và sau cùng chính đứa cháu nội đã truất phế và giam hãm ông cho đến chết. Con cháu ông tiếp nối ngai vàng, nhưng vì bất tài, nên cả khối đế quốc rộng lớn đó có kéo dài thêm mấy trăm năm nữa, nhưng yếu kém, rạn nứt, rồi dần dần tan rã. Cuối cùng, nước Ấn Độ trở thành một con mồi ngon cho những cuộc xâm lăng của ngoại bang, kéo dài sự hỗn loạn, đau khổ đầy máu và nước mắt cho dân tộc Ấn trên gần một ngàn năm.
* Người Hồi xâm chiếm Ấn Độ
Sau thời đại Asoka, cả một thời gian dài gần ngàn năm, những đoạn sử Ấn đã bị mất mát, lu mờ, nên người đời nay không được hiểu rành rõ lắm. Nhưng, tiếp đó là những trang thật đẫm máu của các nước lân bang xâm lăng Ấn độ.
Khởi đầu từ năm 664 sau Công Nguyên, những nước theo Hồi giáo, kế cận về hướng Tây của Ấn, thỉnh thoảng lại kéo sang đánh phá, cướp bóc miền trù phú Pendjab. Tuy nhiên, đoàn quân này chỉ là những toán cướp lớn, sau khi tàn phá, vơ vét một số của cải rồi lại rút lui. Cho mãi tới cuối thế kỷ thứ 10, người Hồi mới thực sự xâm chiếm và đô hộ nước Ấn.
Vào năm 997, nước Ấn thực sự suy yếu. Các vua Ấn suy nhược, chỉ biết hưởng thụ, không lo lắng gì đến đất nước, lơ là với chuyện bảo vệ biên cương. Dân chúng Ấn theo mọi tín ngưỡng khác nhau, trong đó có đạo Jain, rất tiêu cực, coi đời là ảo tưởng, hư vô, tuy có yêu hòa bình, nhưng không biết giữ gìn, tranh đấu để sống còn. Họ lại thích tranh biện, cãi vã và do vậy gây tổn thương đến sự đoàn kết dân tộc. Lợi dụng thời cơ này, Mahmud thủ lãnh Hồi giáo nước Ghazni, một nước nhỏ, nghèo, kế cận, đã bất thần kéo quân tấn công Ấn. Vì bất cẩn trong việc đề phòng, Ấn thua to, nên quân Mahmud thả cửa tàn phá các thành thị, đền chùa và cướp bóc chở về nước không biết bao nhiêu của cải của dân Ấn, tích lũy từ nhiều thế kỷ.
Quen mui, từ đó thỉnh thoảng cách sáu, bẩy năm, cứ mỗi mùa Đông, ông ta lại kéo quân sang đánh phá, cướp bóc, để đến Xuân lại lùi về, chở theo rất nhiều vàng bạc, châu báu. Không những để thỏa mãn lòng tham, ông ta còn tàn nhẫn sai quân đốt cho cháy rụi tất cả các đình chùa, dinh thự và cho lính thả cửa cướp bóc, hãm hiếp dân lành. Có lần trong một trận ông ta cho giết tất cả tới 50.000 dân. Rồi có một trận tấn công, ông ta tha chết cho họ, nhưng bắt đưa hết về nước để làm nô lệ. Sống đến 75 tuổi, Mahmud xâm lăng Ấn Độ đến 4 lần và nổi tiếng là người lõi đời và giàu có nhất của thời đại bấy giờ.
Từ đó thế giới của người Hồi giáo trố mắt như cú vọ nhìn vào nước Ấn, chỉ chờ có dịp là nhẩy vào xâm lăng, chiếm ngự. Chúng tôi xin nhắc sơ lại về đạo Hồi. Đây là một tôn giáo sáng lập bởi nhà Tiên tri Mahomet, tôn thờ Đức Allah làm Thượng Đế và lấy kinh Coran làm Thánh thư. Giáo tổ Mahomet nuôi mộng bá đồ vương, muốn tạo dựng một Đế quốc Hồi giáo trên toàn thế giới và đã từng lan tràn qua khắp nước Ả Rập, rồi Tây Ban Nha, Ba Tư, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi và cả Đông Âu. Đoàn quân Hồi giáo với số tín đồ cả trên 400 triệu người đã phát triển vừa bằng Thánh thư, vừa bằng Binh thư. Giáo sĩ đã kiêm luôn Tướng soái. Binh sĩ cũng là những tín đồ, vừa tụng kinh Coran xong, đã xông lên thọc huyết quân thù cho chảy thành sông biển. Họ chỉ có tiến, có tiếng súng là lên Thiên đường, còn thụt lùi, đầu hàng là xuống địa ngục.
Do vậy, vào năm 1186 một bộ lạc Ghuri theo Hồi giáo ở A Phú Hãn đã xâm lăng Ấn Độ, chiếm Delhi, đốt phá các đền đài, cướp bóc mọi của cải của dân chúng và lập một triều đại Hồi tại vùng này trong suốt 3 thế kỷ. Theo một huyền thoại còn lưu lại, chứng tỏ dân Ấn cũng có tinh thần yêu nước rất cao. Hồi đó, Alau-d-din, một tướng Hồi kéo quân đột nhập nước Ấn, bao vây trùng trùng điệp điệp thành Chitor. Thời gian đó, vị tướng này được biết tin, trong thành Chitor có một nàng công chúa tên Pudmini, là một tuyệt thế giai nhân, sắc nước hương trời, không một ai sánh kịp. Công Chúa này đang vi hành thăm viếng thành Chitor, nên mắc kẹt. Người tướng trẻ hiếu sắc bèn đưa ra đề nghị, sẽ rút quân tức khắc, nếu thành dâng công chúa cho hắn. Bên Ấn không chịu, ông ta lại đưa đề nghị thứ hai là cũng sẽ rút lui, nếu được nhìn thấy mặt nàng công chúa. Ấn tiếp tục trả lời “Không”. Quá tò mò và si tình, người tướng Hồi đưa ra lời đề nghị cuối cùng là, cho hắn ta được thấy một bức chân dung vẽ nàng công chúa cũng được. Ấn cũng từ chối nữa, vì coi như danh dự của mình đã bị coi thường. Đồng thời họ đã khích động lòng yêu nước của dân chúng, nên toàn thể phụ nữ Ấn cũng tham gia chiến trận.
Những người này đã tiếp sức chồng con quyết liệt bảo vệ thành trì. Mũi tên, hòn đạn không trừ một ai, nên nhiều phụ nữ đã bỏ mạng tại chiến trường. Thấy thế những người lính Ấn xúc động đã coi nhẹ thân mình, chiến đấu dũng cảm cho đến người cuối cùng. Do vậy khi Alau-d-din vào được thành đã thấy trống rỗng, không một sinh mạng nào còn sống. Đàn ông chết hết đã đành, còn các phụ nữ có người nào sống sót cũng đã theo tục lệ Jokur, tức tự chất củi, rồi tự châm lửa tự tử.
Cũng từ đó, dân Bắc Ấn đã bị oằn oại, rên xiết dưới ách thống trị vô cùng độc ác của người Hồi. Phần lớn những vua Hồi đều khát máu. Họ cuồng tín, độc ác như thú dữ, với chính sách cai trị thật tàn nhẫn. Có những vì vua đã tập trung đến 50.000 người dân Ấn, đông nghịt cả một cánh đồng, rồi cho những quan quân và binh lính Hồi vào chọn tùy thích những người làm nô lệ mà sinh mạng hoàn toàn trong tay họ. Tội trạng nặng nhất dành cho những người phiến loạn và côn đồ là cho voi dày, hoặc lột da, hoặc trấn nước, phủ rơm cho chết ngạt, hoặc treo cổ, phơi thây nhiều ngày nơi chợ búa đông người. Ngay như vua Hồi Alau-d-din ra sắc lệnh bắt người Ấn phải theo đạo Hồi và để thị uy, ông cho giết hết những người chống đối, lên tới 30.000 người.
Vua Hồi Tughlak, nổi danh là một nhà bác học, kiến thức cao, có tiếng trong văn đàn mà cũng tàn bạo khủng khiếp. Một người cháu ông làm loạn, ông đã giết tức khắc, mà còn bắt vợ con người đó phải ăn thịt chồng và cha. Ông phá giá tiền tệ, cướp bóc, giết chóc, tù đầy, làm cho khắp nước điêu tàn, đến nổi dân phải trốn vào trong rừng ở.
Chính trong sử sách của Hồi giáo cũng phải ghi nhận sự thực là thời đó trước các lều và ngay trong sân hoàng cung cũng luôn luôn có hàng đống xác người. Có một vua Hồi muốn rời kinh thành khỏi Delhi, để chuyển đi nơi khác, ông ta đã bắt buộc toàn dân phải đi theo. Khi biết tin có một người mù còn trốn ở lại, ông cho lính áp tải lôi kéo cho kỳ được, đến nỗi khi tới nơi, người tàn tật này lại mất thêm một chân nữa. Một vua Hồi cai trị xứ Bengal đã khuyến khích và treo tặng thưởng cho quân lính, nếu ai cắt dâng lên một đầu người Ấn. Kết cuộc ông đã thưởng tới 180.000 cái đầu. Các vua Hồi còn dùng chính sách thu thuế thật nặng nề để làm cho dân Ấn nghèo mạt. Mục đích của người Hồi là làm sao cho dân chúng Ấn đã suy nhược, lại càng yếu hèn thêm, để không còn ý chí phấn đấu, đến cái đầu của mình cũng không giữ được, thì còn nghĩ gì đến vấn đề dân tộc, quốc gia, mà bất bình, mà nổi loạn. Thật vậy, trong lịch sử nhân loại có lẽ không một nước nào có trang sử đẫm máu như Ấn Độ, khi bị Hồi xâm chiếm và thống trị.
* Thời đại đổi đời của người Ấn
Chính sách đô hộ quá tàn ác, dã man của các vua Hồi làm dân Ấn oán hận ngút trời và những người Hồi có lương tri cũng bất mãn. Do vậy, khi bị một cuộc xâm lăng khác thì cũng dễ bị bại trận và tan vỡ. Vào năm 1398, một vua Thổ Nhĩ Kỳ tên là Timur-I-lang, tuy cũng theo đạo Hồi, nhưng ông cho rằng đạo ông mới chính gốc, còn bọn Hồi ở Ấn đã sa ngã, đã bất tài, nên đã để cho đất nước này còn nhiều người theo tà giáo quá, tức là chưa theo đạo Hồi. Timur tự nhận mình là hậu duệ của vua Mông Cổ danh tiếng là Thành Cát Tư Hãn, mà vó ngựa trường chinh của ông đã làm khắp Á Châu lẫn cả Âu Châu run sợ. Xuất phát từ nước Samarcanda, ở phía Tây Ấn, ông tiến quân như vũ bão tiến thẳng tới Delhi, đánh bại đoàn quân của vua Hồi Tughlak. Chiếm đoạt được kinh thành, ông thản nhiên hạ sát cả trăm ngàn tù binh, rồi cho quân lính tha hồ cướp bóc của cải của dân chúng, rồi tải tất cả kho tàng của các vua Hồi đã tích lũy về nước mình. Trong cuộc rút quân, ông còn cho tải về hàng ngàn những phụ nữ trẻ đẹp để làm nô lệ. Sau khi Timur rút lui rồi, các vua Hồi lại tiếp tục trở lại nắm ngai vàng và bóp nặn dân Ấn thêm một thế kỷ nữa.
* Barbur, triều đại người Mông Cổ trị vì nước Ấn
Vào năm 1483, một người Mông Cổ rất tài trí và can đảm, đã theo bước chân của tổ tiên mình là Timur và Thành Cát Tư Hãn khởi đầu cuộc tấn công, đánh bạt quân Hồi và chiếm cứ Ấn Độ, thành lập một triều đại Mông Cổ cai trị nước Ấn.
Theo tập hồi ký, hồi mới 15 tuổi, Babur xuất phát từ xứ nhỏ bé Ferghana ở miền bắc, đã đến thành Samarcande, xứ sở của tổ tiên ông là Timur, làm một cuộc cách mạng và lấy được thành này. Tuy nhiên vì ít binh lính quá, ông đành bỏ thành và trốn tránh vào rừng. Ít năm sau chiêu tập được trên 200 binh sĩ, ông đoạt được thành một lần nữa. Nhưng vì bị phản, ông lại phải trốn tránh vào những nơi hoang vu, đời sống rất khổ cực. Tuy nhiên vì thông minh, có ý chí và can đảm, ông không nản lòng và đến khi 20 tuổi, ông tạo lập được một đạo binh gồm 12.000 quân. Sau khi truyền ý chí và tinh thần dũng cảm cho họ, ông đánh chiếm đầu tiên được thành Caboul. Rồi thừa thắng xông lên, với đoàn quân ít ỏi đó, ông tiến đến kinh thành Delhi, phá tan tành đạo quân trên 100.000 người của vua Hồi Ibrahim, giết chết hàng ngàn binh lính bại trận.
Kéo đoàn quân chiến thắng vào thành, ông sáng lập đầu tiên tại đó một triều đại Mông Cổ kéo dài gần một trăm năm. Khôn khéo và nhân từ, chính sách cai trị của Babur có phần dễ dãi, thi hành được nhiều ân huệ nhất, trong số các triều đại ngoại bang đô hộ nước Ấn. Đó cũng là một niềm an ủi cho dân tộc Ấn đang chịu nhiều đau khổ, uất hận đối với người Hồi. Babur mệnh vong lúc 47 tuổi, truyền ngôi cho con là Humayun.
Người con trai này quá nhu nhược, lại hút sách, nên bị người Hồi đánh quật trở lại, chiếm lấy ngai vàng. Humayun cay đắng cố gắng thu phục lại sơn hà. Nhờ sự giúp đỡ của vua Ba Tư, nên ông cũng giành lại được ngôi báu, sau 12 năm bôn ba nhờ vả. Nhưng số phận chẳng ra gì, nên chỉ 8 tháng sau, vua Humayun đứng chơi trên một sân thượng chẳng may trượt chân ngã xuống thiệt mạng. Người con trai của ông sinh ra trong thời kỳ bôn tẩu tên là Muhammad đã lên nối ngôi cha. Đây là một điểm son trong lịch sử Ấn Độ, vì Muhammad, mà người Ấn quí trọng đã gọi là Akbar, nghĩa là “Tối Đại”, một vĩ nhân, giúp dân Ấn thoải mái, bình yên trong cuộc sống, trong khi đất nước phát triển rất nhiều về mọi ngành nhất là về Thơ, Nhạc, Họa và kiến trúc. Kỳ sau, chúng tôi xin tường thuật về vị vĩ nhân này và cả vị vua Mông Cổ Jehan, người vì mối tình sử huyết lệ mà đã xây dựng nên lâu đài nổi tiếng trên thế giới Taj Mahal. Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông
Nguồn: http://www.viendongdaily.com/nhung-trang-su-day-mau-va-nuoc-mat-cua-an-do-ds8uYS5W.html