Bạn thích bài này?
Font-Size:
Quản lý kinh tế – Việt Nam đang gặp khó khăn
(VienDongDaily.Com - 03/04/2011)
Cơ quan Standard and Poor’s trong cuộc đánh giá mới nhất về các ngân hàng VN cho là lạm phát, cường độ cho vay trong mấy năm qua và tổng ...
TS. Đinh Xuân Quân

Trong những ngày gần đây lạm phát đã lên xấp xỉ 12,7% và các cơ quan đánh giá quốc tế về hệ thống ngân hàng Việt Nam đã hạ tỷ lệ của các ngân hàng VN vì theo họ rủi ro các ngân hàng VN tăng.


Cơ quan Standard and Poor’s trong cuộc đánh giá mới nhất về các ngân hàng VN cho là lạm phát, cường độ cho vay trong mấy năm qua và tổng phí vay tiền tại VN có thể gây nhiều khó khăn – tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng.  
Mặc dù các ngân hàng VN không bị ảnh hưởng trực tiếp về khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 như các ngân hàng ở các nước kinh tế thị trường, cơ quan S&P nghĩ là ảnh hưởng của 3 yếu tố trên sẽ làm hệ thống ngân hàng VN suy yếu. Vì vậy chỗ đứng của Ngân Hàng Ngoại Thương, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển đã sụt giảm từ [Vietcombank] BB-/xuống - B), [BIDV] từ BB-/ - B) và Ngân Hàng Hợp Doanh [Vietnam Technological And Commercial Joint Stock Bank] từ (BB- xuống còn - B).  
Hiện nay tình trạng quản lý vĩ mô cho thấy là nợ công của VN ở thời kỳ tháng 3 năm 2011 là 29 tỷ Mỹ kim hay 42% của GDP (Tổng sản lượng nội địa VN). Hiện nay VN có hai thâm thủng:
1) Thâm thủng cán cân thương mại;
2) Thâm thủng ngân sách.
Dự trữ ngoại tệ của VN là dưới 50% tổng số nợ công (14 tỷ Mỹ kim) cho nên nếu phải trả nợ ngay lập tức, VN sẽ coi như phá sản, không đủ khả năng thanh toán nợ.
VN bị hai điểm yếu kém trong vấn đề quản lý kinh tế, thâm thủng ngân sách và thâm thủng ngoại thương, cho nên yếu tố lạm phát tăng và quản lý vĩ mô VN trong vòng luẩn quẩn.

* Tại sao lạm phát lại cao?

Từ 2007 đến nay, nhiều biện pháp kinh tế dựa trên tiền tệ nhưng không giải quyết tận gốc vấn đề kinh tế VN – nghĩa là cải cách các Doanh Nghiệp Nhà Nước.
Theo đánh giá của S&P thì tín dụng tại VN tăng quá cao và chỉ tiêu tín dụng tăng 20% một năm còn quá cao cho 2011. Hiện nay tín dụng tăng trên 28% nghĩa là cao hơn cho chỉ tiêu 25% của năm 2010.  Hơn nữa lạm phát 12% cho tháng 1 năm 2011 là do chính sách tín dụng dễ dãi. Và sau hết chi phí vay tiền (lãi suất) vay ở trên 18% một năm trong khi vay bằng Mỹ kim ở mức 6% và việc này đã làm mất lòng tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam.
Theo thiển ý thì tăng trưởng cao tại VN là vì chính sách tiền tệ khuyến khích chi “tiêu công” để có thể mỗi năm có tăng trưởng GDP cao gây nên một số vấn đề sau đây:
- Chi tiêu và đầu tư công ở mức cao khiến thâm thủng ngân sách. Hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, chì số ICOR (vốn đầu tư/tăng trưởng) ở mức 6-7, hơn 1,5 lần mức trung bình của nền kinh tế VN và 3-5 lần của Đông Nam Á. Các doanh nghiệp nhà nước có tỷ số lời ở mức rất thấp 6,3% so với mức trung bình 17,63% của các doanh nghiệp nói chung và 28% của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước tạo ra ít công ăn việc làm. Vụ xì-căn-đan Vinashin là một điển hình của việc làm ăn thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước thường có dính dáng đến đảng.
- Chính sách tiền tệ quá lỏng lẽo khiến cung tiền (money supply) và tăng trưởng tín dụng (credit growth) quá cao so với đòi hỏi của kinh tế. Trong những năm vừa qua cung tiền (M2 – money supply) và tăng trưởng tín dụng luôn ở mức cao. Theo Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) thì chỉ số M2 của VN tăng 31,2% trung bình trong 10 năm qua (2000-2009). Nếu tăng trưởng là 8% và lạm phát là 4% thì tăng trưởng của cung tiền tệ phải ở mức 8+4 = 12% là vừa. Chính chính sách tiền tệ của VN đã gây lạm phát vì chi phí vốn quá rẻ.
- Khi kinh tế có dấu hiệu lạm phát ở mức cao, ngân hàng nhà nước thường nâng lãi suất để giảm việc cho vay nhưng ở VN chính phủ lại không điều chỉnh chính sách chi tiêu công – khiến nợ công cao – kéo theo doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả cho nên VN cứ chạy vòng quanh – không giải quyết được.

* Việt Nam phá sản?
Số tiền trả nợ công: Việc phá sản này sẽ khó xẩy ra nhưng có thể xẩy ra vì các biến cố không thể dự trù được như biến cố chính trị tại Ai Cập hay cơn động đất – sóng thần tại Nhật hay là các bất trắc khác làm khó khăn cho xuất khẩu VN.  
Trong năm 2011, chỉ tiêu thâm hụt ngân sách được giữ ở mức 5% và thâm hụt cán cân thương mại có thể lên đến 18% của xuất cảng hay là 14,2 tỷ Mỹ kim cho năm 2011.
Mặc dù số tiền do Việt Kiều gởi về Việt Nam trên 8 tỷ Mỹ kim/năm và đầu tư nước ngoài FDI - ở mức 3 đến 4 tỷ Mỹ kim, vì hai thâm thủng này (ngân sách và cán cân thương mại), Việt Nam sẽ phải đi vay thêm. Nếu tính như vậy thì trong năm 2011 Việt Nam cần có 4 tỷ Mỹ kim để trả nợ công và tượng trưng một tỷ lệ 12% của ngân sách quốc gia. Vì gánh nặng nợ công ngày càng lớn cho nên các nước hay ngân hàng chủ nợ của Việt Nam cần tính đến khả năng trả nợ của xứ nầy. Khả năng thu thêm thuế của Việt Nam để trả nợ hay xuất cảng trước khi tính chuyện cho vay thêm.  Vì vấn đề Vinashin cho nên dù muốn hay không thì VN sẽ khó đi vay ở nước ngoài.  
Nếu dự trữ ngoại tệ của Việt Nam dưới 4 tỷ Mỹ kim/năm thì có nhiều triển vọng Việt Nam sẽ trở thành một thứ như Hy Lạp hay Băng Đảo (Iceland) tại Á châu (phá sản), hai nước phá sản tại Âu châu.  
Tiền Việt Kiều gởi về xứ không giúp được nhiều vì nó đến tay các tư nhân và họ đầu tư, tích trữ bằng Mỹ kim hay họ mua vàng chứ không mua công khố phiếu. Tại sao? Dân chúng không còn tin tưởng vào đồng bạc Việt Nam nữa vì lạm phát cao cho nên họ mua vàng và tích trữ Mỹ kim, chứ không mua “công khố phiếu” của chính phủ.
Giảm ngân sách: Muốn giảm thâm hụt ngân sách, chính phủ phải giảm chi tiêu công, nhất là các chi tiêu - đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ đã ra chỉ thị giảm thâm thủng ngân sách 0,5% so với 2010 nhưng chưa có nhiều biện pháp nhắm vào các doanh nghiệp nhà nước.  Các công ty quốc doanh sử dụng quá dễ dãi tín dụng để đầu tư vào nhiều lãnh vực ngoài mục tiêu của họ. Ngoài ra về chi tiêu công cộng cần phải giảm hơn nữa - chính phủ phải bớt hay giảm đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp không thể tồn tại được. Các công ty đó cần phải khai phá sản. Nhà nước cần kiểm soát việc đầu tư của các công ty quốc doanh và của các ngành. Việc kiểm soát chặt chẽ sẽ giảm chi tiêu ngân sách, giảm phí phạm.
Hơn nữa các quan chức nhà nước phải giảm chi tiêu về xe cộ (nhà nước đã ra lệnh không mua thêm xe công) và về các vụ đi công tác nước ngoài. Công chức Mỹ kể cả các đại sứ của một nước giàu nhất thế giới khi đi công tác tại nước ngoài phải dùng máy bay thương mại và bay hạng Y (economy class) rẻ nhất trong khi các công chức VN đi máy bay với hạng Business hay First. Việt Nam có thể tiết kiệm nhiều và giảm phí phạm.   
Giảm thiếu hụt cán cân thương mại: VN nhập siêu ở mức cao lên đến trên 12 tỷ Mỹ kim/năm hay xấp xỉ 12% GDP, trung bình trên 1 tỷ Mỹ kim /tháng. Khó hơn nữa là nhập siêu nghiêng về Trung Quốc làm cho Việt Nam tùy thuộc ngày càng nhiều vào nước láng giềng có nhiều tham vọng bành trướng.  
Thường trong thương mại, VN cần nhập các nhiêu liệu (ví dụ về may mặc thi cần nhập vải) để gia công xuất cảng. VN cần nhập các máy móc để có thể xuất cảng hàng hóa.    
Việc thiếu hụt này không mấy lo trừ các mặt hàng tiêu thụ như xe Bentley, xe Mercedes, v.v., không có khả năng gây thêm của cải.    

* Kết luận

Giải quyết các khó khăn kinh tế không quá khó nếu có quyết tâm. Thiếu hụt ngân sách và thiếu hụt thương mại có thể giải quyết một cách dễ dàng nếu VN bỏ cái đuôi – Kinh tế thị trường với định hướng XHCN.  Cái đuôi này giúp cho nhiều người lợi dụng “định hướng” để gây “tư bản đỏ” làm giàu cho một số nhỏ người.
Muốn lấy cân bằng thì VN cần xét lại chính sách doanh nghiệp nhà nước, cần cải cách từ những năm 1990 cho đến nay đã trên 20 năm mà vẫn chưa giải quyết  vấn đề các công ty quốc doanh. – (ĐXQ)

Vận Nước – Lòng Dân
Mỗi Thứ Bảy & Chủ Nhật

Với sự cộng tác của

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm, cựu Thứ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thanh Liêm, chuyên viên Liên Hiệp Quốc TS. Đinh Xuân Quân, nhà báo Đinh Phụng Tiến, nhà văn Trần Phong Vũ, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhà báo Lê Hồng Long, GS. Ngô Đức Diễm, Thẩm Phán Đặng Đình Long, GS. Lê Hồng, TS. Mai Thanh Truyết, TS. Lê Minh Nguyên, nhà báo Huỳnh Quốc Bình, nhà thơ Huy Trâm, cựu Dân Biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng.

Điều hợp bởi nhà báo Võ Long Triều.

Ý kiến bày tỏ trên “Vận Nước – Lòng Dân” nói riêng và trên trang Diễn Đàn nói chung không phản ảnh quan điểm của ban chủ biên nhật báo Viễn Đông.


Nguồn: http://www.viendongdaily.com/quan-ly-kinh-te--viet-nam-dang-gap-kho-khan-aET82LNS.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo