Font-Size:
Quán Rừng Đước
(VienDongDaily.Com - 02/09/2011)
Rừng, một đề tài bàng bạc trong Thi Ca Nhạc Họa. Tùy theo hoàn cảnh thực tế và cảm xúc của mình mà mỗi nghệ sĩ đã cống hiến cho đời những áng thơ văn, những ca khúc, những hình ảnh trác tuyệt về Rừng.
Tản mạn đường xa
Bài và ảnh: Trần Công Nhung
Rừng chiều Việt Bắc
Rừng, một đề tài bàng bạc trong Thi Ca Nhạc Họa. Tùy theo hoàn cảnh thực tế và cảm xúc của mình mà mỗi nghệ sĩ đã cống hiến cho đời những áng thơ văn, những ca khúc, những hình ảnh trác tuyệt về Rừng. Sơ qua một số tác phẩm tiêu biểu về Rừng: Hổ Nhớ Rừng thơ của Thế Lữ, Ai Hát Giữa Rừng Khuya tiểu thuyết của Tchya, Chuyện Đường Rừng tiểu thuyết của Lan Khai, Lửa Rừng Đêm nhạc Nguyễn Hữu Ba, Rừng Khuya nhạc Lam Phương, Mưa Rừng nhạc Huỳnh Anh, còn về ảnh và họa thì muôn trùng.
Những ai thuộc thế hệ 3x – 4x, chắc chắn không bao giờ quên Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ, bài học thuộc lòng, bài thơ đầy khí phách của đấng nam nhi.
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủơ tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng…
Không như những “đại trượng phu” thời nay chìm ngập trong phú quí vinh hoa bỏ mặc sơn hà xã tắc cho ngoại nhân tung hoành. Lam Phương cũng mượn Nhạc Rừng Khuya để nói lên nỗi niềm uất hận khi thấy giặc tràn sang phá nát rừng nhà.
Rừng căm hờn ngày nào thù lan tràn khắp
Rừng oán thù ngày nào giặc sang tàn phá
Máu đào rơi thây phơi khắp trong rừng chiều…
Quán trong đìa tôm
Ngày nay không những giặc mà ngay cả ta cũng ra công phá nát rừng, tuy vẫn thường rêu rao “bảo vệ rừng” mà rừng ngày càng bị cạo trắng. Rừng không còn, mùa mưa đến, lũ tràn về cuốn đi bao nhiêu tài sản và sinh mạng! Dư luận trong nước cho rằng H.A.G.L đã nhờ thế lực bất chính hút máu tủy của rừng xây lâu đài giàu sang nhất nước. Cứ lên Google tìm là thấy hết. (1)
Hình ảnh người chiến binh trở nên hào hùng khi đi giữa rừng khuya, khi vây quanh bên bếp lửa rừng.
Bạn cùng ta, nắm tay múa ca
cho đời bừng sống dưới màn sương đông,
máu hồng thêm hăng bên lửa đêm bập bùng.
Tùng tùng tinh tùng
bình bùng binh bùng
tang tình tang tình tính.
Ta người chiến binh
ra đời chiến chinh hiến thân vì nước;
Muôn đời thề ước vang tiếng hùng anh,
nước biếc rừng xanh
trong bốn phương tung hoành.
(Lửa Rừng Đêm nhạc Nguyễn Hữu Ba)
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã viết trong “Thư của lính:
Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngaỵ
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.
Người nghe thấy rừng sao mà dễ thương và hiền hòa, gần gũi cứ như người bạn thân thiết. Màu tím rừng chiều cũng mang lại nỗi nhớ niềm thương cho người lính trận biên khu như lời của nhạc sĩ Thu Hồ trong “Tím Cả Rừng Chiều”:
Tím cả rừng chiều, thẹn thùng mơ áo cưới
Nhắc nhở đến người đi, duyên thầm ước gì
Ngoài xa cách biệt kinh kỳ
Có người lính chiến đẹp ghi khắc lòng em
Nơi nào cũng có thể cho ta cảm xúc buồn nhớ thương đau, nhưng rừng thì thật da diết sâu đậm. Ai đã từng ở rừng tất đã có những giây phút buồn (nhớ nhà, nhớ người yêu…) mỗi khi chiều về. Lúc mặt trời xuống dần sau núi, để lại bầu trời ráng mây đỏ rực, rừng chìm vào bóng tối âm u, tự nhiên lòng mình cũng nặng xuống với bao nhiêu cảm xúc dâng đầy. Những cung bậc trong Chiều, thơ Hồ Dzếnh (Dương Thiệu Tước phổ nhạc), âm hưởng rừng chiều mới buồn làm sao:
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay
Chất trong hồn chiều nay
Quán Rừng Đước
Có một lần tôi về Bản Hồ (Sapa), gặp khi chiều xuống, lần đầu tôi thấm thía nỗi buồn của rừng chiều, nó trầm lắng, cô quạnh pha chút thê lương. Và, cũng là lần đầu tôi gặp một ráng trời chiều thật lạ.
Mây vảy cá đỏ tím cả không gian làm nền cho đỉnh núi độc tôn trước mặt, dù đã muộn để trở lại Sapa, tôi cũng nán hoàn tất công việc cuối ngày của mình.
Khi nói rừng đẹp, rừng buồn, rừng vàng (biển bạc) ấy là rừng đầu nguồn, rừng già, rừng nguyên sinh chứ không ai nghĩ đến rừng bạch đàn, rừng đước, mặc dù rừng đước cũng mang lại lợi ích không nhỏ (rừng ngập mặn), nhất là ở miền Nam từ Cần Giờ về Cà Mau, Đất Mũi.
Tôi đã có lần nằm qua đêm giữa rừng đước Đất Mũi (2), Rừng đước không có cảnh lửa rừng bập bùng suốt canh thâu, mà chỉ có tiếng đước rơi lốp đốp trên mái tôn nhà sàn, hoặc rơi lỏm bỏm xuống nước mặn quanh nhà.
Rừng đước dường như không mấy được nhắc nhở qua các bộ môn nghệ thuật, ngoại trừ thỉnh thoảng thấy trong Nhiếp Ảnh những năm của thập niên 60 – 70. Rừng Việt Bắc, rừng Trường Sơn là kho tàng chất liệu của giới làm nghệ thuật, là chứng tích lịch sử mở nước của cha ông (Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân), rừng đước chỉ để lấy củi, nuôi cò...
Nhưng khi nghe Quán Rừng Đước tự nhiên tôi thấy có gì đó lôi cuốn, lôi cuốn không vì đi tìm món đặc sản lạ mà do hình ảnh của quán trong trí mình.
Cò rừng đước
Quán thường sống nơi đô hội, lắm kẻ qua người lại, ít ai nói quán giữa rừng, rừng đước lại càng hiếm. Nha Trang có Quán Rừng Đước, hỏi mãi mới biết quán có thật và tận rừng đước dưới đồng muối xã Vĩnh Thái. Đồng muối, trước đây là đồng hoang, mỗi mùa hè tôi đi tìm ổ chim Sơn Ca đem về nuôi cả bầy như gà công nghiệp.
Hồi ấy đồng trống trãi, chẳng thấy ai làm muối, nhà ở cũng không. Có hôm giữa trưa trời nắng chang chang, một mình tôi ngồi giữ đồng vắng “thưởng thức” những tấu khúc của sơn ca trên từng không (3). Đường xuống đồng muối bây giờ có tên khá đẹp: Châu Phong, đường bê tông, cư dân trám kín hai bên, không còn thấy dấu vết vùng đất ngày cũ.
Tôi hỏi mãi “quán Rừng Đước” mới có người chỉ cho một lối rẽ và bảo: “Chú cứ chạy miết, cuối cùng là thấy quán”. Điều may mắn là không phải “Rừng Đước Quán”, kiểu “nói chữ” theo văn hóa Việt Nam ngày nay. Tôi dị ứng với cách đặt tên: Phong Độ Quán, Cây Đa Quán, Hồ Sen Quán, theo tôi đấy là lối làm dáng ngây ngô ngớ ngẩn (do xã hội đẻ ra).
Về quán Rừng Đước, đường rải đá, chưa được hoàn chỉnh, nhiều ổ gà, có mương đào dài theo đường, vài ba người câu cá. Có lẽ mương để lấy nước vào ruộng nuôi tôm. Trước đây đìa tôm nhiều ở ngoài Phú Hữu cách phía Bắc Nha Trang 20km, nay nuôi tôm vùng này có vẻ phát triển mạnh và khoa học hơn. Ruộng muối thành ruộng tôm.
Chạy chừng vài cây số, thấy có bảng lớn: “Rừng Đước đây rồi - Quán Rừng Đước - Các món nhậu bình dân”. Tìm gì còn khó chứ “nhậu” rất dễ, nơi nào có người là có nhậu, dân sành nhậu còn kéo nhau đến chỗ vắng cho thoải mái, không ai quấy rầy. Quán Rừng Đước đáp ứng đúng đòi hỏi này.
Thoạt nhìn, tôi thấy nhiều nhà sàn nhỏ như chòi có cầu gỗ chạy díc dắc từ đường đê vào lều, ẩn dưới những lùm đước hoặc nằm mé đìa nuôi tôm. Đước từng cụm dày đặc chứ không có dạng rừng như thường thấy. Ngọn đước như có ai xén bằng trông giống mái nhà, nhiều “mái nhà đước” liên kết thành rừng. Không thấy khách mà thấy nhiều cò trắng đậu. Tôi vào thăm một nhà có người, người đàn ông vui vẻ chào mời: “Mời anh ngồi, có cà phê, nước ngọt, anh dùng gì”? Tôi gọi một cà phê đen để có cớ (4) hỏi chuyện:
- Quán nơi vắng vẻ vầy thì mua bán thế nào anh?
- Dạ, cũng lai rai thôi.
- Giờ nào quán mới có người?
- Từ chặp trưa đến khoảng 3 giờ.
- Ban đêm có không?
- Dạ không.
- Mỗi chòi như vậy là một băng nhậu riêng?
- Dạ đúng.
- Anh cho biết một vài món đặc biệt của quán
- Cua tôm bắt từ đìa, món thì cũng quen thuộc thôi: Cua tôm rang me, nướng, hấp tùy khách gọi.
- Gọi phần hay dĩa, giá cả thế nào?
- Dạ, cua thì bán ký, 1kg/280 ngàn, làm theo ý khách. Tôm thì có tôm sú, tôm thẻ, dĩa 60 ngàn, cũng hấp, rang me hay nướng. Đặc biệt là tôm cua nuôi theo thiên nhiên, không như nuôi đìa bằng thực phẩm công nghiệp (tăng trọng).
“Nhậu chòi” có vẻ thoải mái, “không đụng hàng”, không lo chuyện lộn xộn đám nọ đám kia. Có nhiều quán nhậu, chỉ nhìn qua liếc lại mà gây án mạng. Một bầy cò vừa bay về trên lùm đước, tôi hỏi:
- Cò nhiều vậy ở đây có ai đến chụp ảnh không?
- Có chớ, chiều xả đìa nước cạn, cò xuống ăn, thế nào cũng có người tới chụp.
- Đìa nước luôn đục như vầy sao anh?
- Thường thì trong, mấy bữa nay phun thuốc diệt rong để làm sạch đìa nên nước mới đục. Mùi hôi đó là do rong chết.
- Mấy ngày thì đìa mới sạch?
- Ba ngày. Chiều nước ròng, xả đìa, tối nước lên, ba bữa là sạch.
- Lúc nãy anh nói chiều nước cạn cò xuống ăn, cạn là mấy giờ?
- Từ hai rưỡi đến chiều.
- Cò thường ở đây hay chỉ khi xả đìa?
- Những lúc không xả đìa, sáng cò đi ăn nơi khác, tối về đây ngủ.
- À quán anh có món thịt cò không ?
- Không đâu, cò để làm cảnh bà con lui tới coi chơi thôi. Với lại thịt cò mà ngon gì.
- Cảm ơn anh, chiều tôi trở lại chụp ảnh cò.
Vậy mà mấy năm trước về vườn cò Bằng Lăng (Thốt Nốt), quán quảng cáo các món cò. Điều khó hiểu là nhiều “nhiếp ảnh gia” chụp ảnh cò bay cò lượn rồi về quán nhậu thịt cò. Quán Rừng Đước thế mà có lòng nhân.
Tôi ra đường đê vào phía trong một đoạn, rình chụp đàn cò. Cò khá nhiều, lúc có người đi trên đê, cò bay lên từng nhóm theo “đội hình” xem cũng thích. Tuy nhiên do nước ngập nên không có cảnh bắt mồi hay đuổi đá nhau.
Chụp thêm ít ảnh chung quanh, tôi chạy vào vùng phía trong quán Rừng Đước. Ở đấy cũng có con đường đê qua nhiều đìa tôm. Đìa nuôi tôm nước trong veo, những guồng máy đảo nước chạy xành xạch, nước cuộn lên thành vòng trắng toát. Một hai đìa đang kéo lưới, vào trong xa, sát núi cảnh đẹp cách khác thường, mặt nước lặng như gương, bóng lều in rõ nét trong bóng núi, con thuyền nan, một vài em bé… một vùng quê yên bình, chỉ tội quá nghèo.
Có hai vợ chồng kéo lưới bắt tép ở một đầu sông than thở: “Khó khăn quá chú ơi, kéo bậy ký tép kiếm tiền chợ”. Hỏi chị bán bao nhiêu một ký, “chừng 3, 4 chục (nghìn) thôi à”. Không biết lâu mau được ký tép, ký tép chỉ mới bằng tô phở thông thường. Đời sống như vậy nếu thêm vài đứa con thì nuôi thế nào, học hành đến đâu, học rồi làm gì ra tiền.
Kéo lưới bắt tép
Đời sống ngày nay không phải ai cũng có tiền ăn tô phở 700 nghìn để tránh nhiễm độc phụ gia, không phải ai cũng đủ ăn đủ mặc sáng vào quán nhậu tối vào mát xa (massage) thư giãn, nhưng người mình vẫn thích những thứ “hão huyền, bánh vẽ, sĩ diện” thích cách sống “ta đây đẳng cấp”… Đôi khi nhìn cách ăn mặc của các cô các cậu mà tội nghiệp cho họ. Nhiều người cho biết “đấy là mô đen (model) Hàn quốc” (5).
Tôi có cảm tưởng mọi thứ như được thả nổi, rồi sẽ ra sao? Chẳng lẽ rồi bị thuốc chết, sình thối như rong đìa quán Rừng Đước!
Tháng 7-2011
(1) Xin bạn đọc hiểu dùm, hầu hết những điều tôi viết ra là những ghi nhận chính tai nghe mắt thấy, là thực tế đầy dẫy đó đây nên không nhất thiết phải ghi “nguồn”. Tệ nạn từ học đường ra xã hội, từ bệnh viện ra đường cái, v.v., muôn trùng trên bản tin Yahoo VN. Ví thử “bọn xấu” có phịa thêm thì cũng chẳng thấm gì.
(2) “Đất Mũi” trang 65 QHQOK tập 4
(3) “Nuôi Sơn Ca” trang 60 Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng.
(4) Từ ngày bị ngộ độc, tôi tránh tối đa đồ ăn thức uống pha chế, vỏ bao, chai hộp tại Việt Nam. Tôi phải tự nấu cơm gạo lứt, ra chợ lựa mua cá nhỏ, cá sông tự kho lấy. Có vất vả mà an toàn, mấy năm nay không còn bị ngộ độc nữa. Sống trong môi trường mà mọi người đều chấp nhận, mình không còn cách nào hơn là tự hạn chế để giảm thiểu tác hại.
(5) VTV1 có phỏng vấn ông Nguyễn Hòa tác giả nhiều cuốn sách về “Văn Minh, Văn Học, Văn Hóa”, tác giả nêu rõ ngày nay “văn minh” đã lấn sân “văn hóa” làm biến chất văn hóa, không còn văn hóa như ta hiểu xưa nay. Từ đó xã hội ngày càng suy đồi do không còn văn hóa.
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 11, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc: Tran Cong Nhung, P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Điện thoại: (310) 978-4182.
Email: trancongnhung@yahoo.com - Website: www.ltcn.net
Nguồn: http://www.viendongdaily.com/quan-rung-duoc-QLpK77Xf.html