Saturday, 18/02/2012 - 01:28:28

Tại sao gọi là “The Tale of Lady Thị Kính” - Câu chuyện Thị Kính?

Anvi Hoàng/Viễn Đông

LTS: Trong dịp Tết Nhâm Thìn vừa qua, nhật báo Viễn Đông đã có dịp giới thiệu với độc giả về vở opera “The Tale of Lady Thị Kính”/ “Câu Chuyện Thị Kính” của nhà soạn nhạc P.Q. Phan (Phan Quang Phục). Đây là bài thứ ba trong loạt bài nhằm tìm hiểu về nội dung vở opera, cũng như giới thiệu các khía cạnh liên quan đến việc sáng tác và dàn dựng vở opera “Câu Chuyện Thị Kính” trước khi buổi diễn đầu tiên mở màn vào đầu năm 2014 tại trường nhạc Jacobs School of Music ở Bloomington, Indiana.

Người Việt Nam ít ai lại không biết Quan Âm Thị Kính. Có lẽ hay nghe nhắc đến nhất là “oan Thị Kính”. Câu chuyện Quan Âm Thị Kính phổ biến và gần gũi đời thường đến nỗi ít người để ý rằng bối cảnh câu chuyện là xảy ra ở Cao Ly (Đại Hàn ngày nay). Nhưng đó là chuyện xưa rồi. Vở chèo Quan Âm Thị Kính đã được Việt Nam hóa qua cả ngàn năm. Người Việt Nam bây giờ nhắc đến Quan Âm Thị Kính như là một tài sản văn hóa quý giá của dân tộc. Mà cũng đúng thế thật, bởi vì so sánh với các dị bản về truyền thuyết phật bà của Trung Quốc hoặc Đại Hàn, câu chuyện Phật bà Quan Âm Thị Kính của Việt Nam hoàn toàn khác.

Truyền thuyết Phật bà Trung Quốc
Theo lý thuyết nhà Phật, Bồ Tát Avalokitesvara được xem là biểu tượng của lòng từ bi, bác ái. Ở Trung Quốc, hiện thân của Bồ tát Avalokitesvara trong hình hài phật bà được gọi là Guan Yin (hoặc Kuanyin). Ở đây, Guan Yin có nguồn gốc cả từ đạo Lão nữa. Trong đạo Lão, Guan Yin là một vị Tiên có khả năng làm phép. Đức Phật thật ra là không bao giờ làm phép, cho nên Phật bà của Trung Quốc mang tính đạo Lão nhiều hơn, chứ Phật nguyên thủy từ Ấn Độ thì không làm phép như thế.
Theo truyền thuyết ở Trung Quốc, công chúa Miao Shan là đầu thai của Guan Yin. Vì cãi lệnh vua cha mà bị ngược đãi nhiều phen. Cuối cùng, nhờ phước đức tích lũy lâu năm, Miao Shan siêu thoát và được lên niết bàn. Trên đường đi, nghe tiếng kêu thống khổ của trần gian, bà mới dừng lại và nguyện làm Bồ Tát để cứu khổ cho dân gian.
Ngày nay, người ta coi Guan Yin là hiện thân của lòng từ bi và thương người. Bà cũng được xem là người hộ mệnh cho đàn bà và trẻ con, vì vậy người ta xem bà như là thần phồn thực và tìm đến bà để cầu xin có con. Guan Yin cũng được biết đến như là vị phật bà cứu độ cho tất cả những ai nghèo khổ và gặp khó khăn.

Truyền thuyết Phật bà Việt Nam

Hiện thân của Bồ Tát Avalokitesvara trong hình hài Phật bà ở Việt Nam được gọi là Quan Âm. Truyền thuyết về Phật bà Quan Âm được kể qua vở chèo Quan Âm Thị Kính - là câu chuyện về một Thị Kính bình thường, sinh ra trong một gia đình bình thường. Thị Kính đi tu là vì hoàn cảnh bắt buộc. Trải qua nhiều gian nan, Thị Kính được lên niết bàn vì Đức Phật động lòng trước những hy sinh không tính toán của Thị Kính, nên tôn bà lên thành Phật Quan Âm Thị Kính.
Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa truyền thuyết Phật bà của Trung Quốc và Phật bà Việt Nam là: trong câu chuyện Phật bà Guan Yin, Miao Shan là đầu thai của Phật, được sinh ra để lại trở thành Phật. Ngay từ đầu, Miao Shan đã muốn đi tu mà không muốn sống cuộc sống trần tục. Về một mặt, sinh ra chỉ để đi tu, theo đuổi cuộc sống tâm linh, và trở thành Phật là con đường mang tính ích kỷ. Ngay cả Đức Phật cũng phải trả nợ cuộc đời trước khi đi theo con đường tu hành. Trong khi đó, Quan Âm Thị Kính lại là chuyện một người bình thường, sinh ra trong một gia đình bình thường, sống và trải nghiệm cuộc sống trần tục và rồi trở thành Phật. Có thể nói ý nghĩa của chuyện Quan Âm Thị Kính của Việt Nam gần gũi với triết lý Phật giáo hơn là chuyện Phật bà của Trung Quốc.

Tựa đề vở opera “The Tale of Lady Thị Kính” / “Câu Chuyện Thị Kính”

Giáo sư kiêm nhà soạn nhạc P.Q. Phan (*) cho biết khi đặt tựa đề cho vở opera, anh chọn “Câu chuyện Thị Kính” bởi vì khi nghe “Quan Âm Thị Kính” người ta sẽ nghĩ đây là câu chuyện về Phật giáo và tính tôn giáo trong vở diễn sẽ cao. Trong khi đó, anh lại muốn kể câu chuyện theo một khía cạnh khác – là khía cạnh nhân bản của nó. Câu chuyện thật ra là xoay quanh cuộc đời của Thị Kính – nhân vật này đã sống và hy sinh cuộc đời của mình cho một xã hội tốt đẹp hơn. Đây đúng là tiếng nói của nhân quyền, của nữ quyền. Do đó tựa đề “Câu chuyện Thị Kính” là thích hợp hơn.
Tựa đề “Câu chuyện Thị Kính” sẽ không nói gì đến chuyện Phật giáo. Ngược lại, tựa đề này ngụ ý nói rằng: một người đàn bà bình thường, sống một cuộc đời bình thường và hy sinh cho một xã hội tốt đẹp hơn thì có thể siêu thoát để trở thành người thoát tục như Đức Phật; rằng người ta không cần phải là đầu thai của Phật hoặc Bồ Tát để rồi sau khi chết trở thành Phật, mà ai cũng có thể trở thành Phật cả.

“The Tale of Lady Thị Kính” / “Câu Chuyện Thị Kính” mang tính siêu thoát qua nhiều cấp độ (*)
Trong "Câu Chuyện Thị Kính", sự “siêu thoát” cả về mặt âm nhạc và mặt thẩm mỹ diễn ra qua nhiều cấp độ khác nhau. Về mặt âm nhạc, âm điệu ban đầu của vở opera mang đậm tính truyền thống Việt Nam. Đến khi gần kết thúc, âm nhạc trở nên hiện đại hơn. Trong đoạn đầu của vở opera, giai âm chủ đạo của nó nằm ở tông thấp, và dần dần được nâng cao lên khi càng đi gần đến kết thúc - giống như quá trình người ta siêu thoát lên một cấp bậc cao hơn.
Trong câu chuyện, Thị Kính biến đổi từ người này thành một người khác chỉ bằng cách sống qua một cuộc sống trần tục đầy chông gai, và phải hy sinh liên tục qua mỗi chặng đường để trở thành một con người khác tốt hơn. Những thay đổi này giống như là tiến trình lột bỏ các lớp vỏ khác nhau của đam mê và ham muốn để hóa thân thành người thoát trần. Điều thú vị là Thị Kính không phải sinh ra đã là Phật mang kiếp người, để rồi lại trở thành Phật sau khi lìa bỏ trần thế. Thị Kính phải tự lột xác nhiều lần để trở thành Phật. Do đó, Thị Kính là một mẫu mực rất gần với Đức Phật Thích Ca.
Lột xác lần đầu tiên ngay trong màn 1 là khi Thị Kính phải từ bỏ tự do và sự lựa chọn cá nhân để lấy chồng cho cha vui lòng. Ở nhà chồng chưa được bao lâu, Thị Kính bị hiểu lầm là muốn giết chồng và bị đuổi khỏi nhà chồng. Ở màn 2 này, Thị Kính chấp nhận sự hiểu lầm ghê gớm như thế để gia đình chồng được êm ấm. Sang màn 3, Thị Kính lại quyết định đi tu mà không ở lại nhà cha ruột để cha mình không bị mang tiếng xấu. Đây là hành động quên mình hoàn toàn cho người khác - bởi vì nhiều người đến với con đường tu hành là để tìm lối thoát cho bản thân. Với Thị Kính thì không phải thế. Về nhiều mặt, hành động quên mình của Thị Kính là một ví dụ điển hình của Phật giáo thực thụ - đó là từ bỏ tham vọng cá nhân cho một mục đích cao cả hơn.
Ở màn 4, Thị Kính lúc này là Tiểu Kính Tâm ở chùa, tiếp tục siêu thoát lên một nấc nữa bằng cách tránh xa dục vọng - cũng giống như Đức Phật đã làm khi Ngài nhận ra rằng dục vọng là một trở ngại trên đường tu hành. Hành động khước từ Thị Mầu của Kính Tâm được hiểu là hành động khước từ dục vọng của Thị Kính, cho thấy nhân vật đã siêu thoát và bước vào một thế giới thiêng liêng hơn.
Trong màn xử án vụ Thị Mầu chửa hoang, Thị Kính chấp nhận tội lỗi của Thị Mầu để cho Thị Mầu được bắt đầu một cuộc sống mới. Sau đó ở màn 9 Thị Kính lại sẵn sàng nuôi đứa con rơi của Thị Mầu như là con ruột của mình - lòng thương người không phân biệt và xét đoán của Thị Kính cho thấy bà đã siêu thoát ở bậc đời sống tâm linh. Đến màn cuối cùng, Thị Kính sẵn lòng từ bỏ cuộc sống của mình khi biết rằng đứa bé sẽ sống sót và mọi chuyện đã được sắp xếp đâu vào đó.
Qua toàn bộ câu chuyện, Thị Kính đã gột bỏ được hoàn toàn mọi vướng bận trần gian để siêu thoát đến mức cao nhất. Điều quan trọng là đối với những người đã phụ mình, Thị Kính không hề tỏ thái độ xét đoán hoặc chỉ trích - cũng không khác gì hành vi của Đức Phật. Ngài chỉ đơn thuần chỉ ra rằng con đường Ngài đi là một cách để giải thoát, và mọi người có thể làm theo. Ở đây, Thị Kính cũng chỉ sống theo cách của mình và chứng minh cho mọi người thấy rằng nếu muốn, người ta cũng có thể sống và siêu thoát như bà.
Một điều đáng nói khác là Thị Kính không bao giờ xuất hiện để làm phép mầu như các tiên trong đạo Lão hoặc Phật bà của Trung Quốc. Chuyện Phật bà Quan Âm Thị Kính của Việt Nam có thể là gần với chuyện Phật bà của Đại Hàn, bởi vì Phật bà của Đại Hàn được gọi là Kwan-Eum, nghĩa là rất gần với phát âm “quan âm” của Việt Nam. Tuy nhiên, rất ít người Đại Hàn nào biết về truyền thuyết Phật bà của họ như kiểu người Việt Nam biết chuyện Phật bà Quan Âm Thị Kính. Do đó chuyện Phật bà ở Trung Quốc và Đại Hàn có giá trị về mặt tôn giáo chứ không đóng vai trò gì trong văn hóa quốc gia. Và như vậy “The Tale of Lady Thị Kính” / “Câu Chuyện Thị Kính” đã khai thác một câu chuyện dân gian mang đậm tính Việt Nam và khi được phổ biến sẽ là một đại diện xác thực cho văn hóa Việt Nam.
Vở opera “The Tale of Lady Thị Kính” sẽ được trình diễn vào đầu năm 2014.

(*) Phỏng vấn GS. P.Q. Phan, 11-2-2012.

Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.

SPONSORED LINKS - LIÊN KẾT TÀI TRỢ

Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp

Advertising