Advertisement Advertisement  
Bạn thích bài này?
Font-Size:
Tâm lý hôn nhân - Một góc nhìn tâm lý đạo đức về bất khả phân ly trong hôn nhân
(VienDongDaily.Com - 22/09/2012)
Tuy nhiên, lời của Thượng Đế không chỉ là một ý niệm hay triết lý sống, mà nó là một lệnh truyền, một giao ước giữa hai người mang tính cách vĩnh viễn.
TS. Trần Mỹ Duyệt/Viễn Đông

Thánh Kinh Kitô Giáo có một câu, mà mỗi lần tham dự một thánh lễ hôn nhân Công Giáo, sau khi chứng giám lời thệ hôn của cô dâu chú rể, vị chủ sự bao giờ cũng kết thúc phần nghi thức bằng cách nhắc lại lời của Thượng Đế đã nói về sự bền bỉ và chung thủy của hôn nhân như sau: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19: 6). Điều này có nghĩa là mọi vấn đề liên quan đến hôn nhân và cuộc sống hôn nhân - hạnh phúc hay bất hạnh - của hai người đã được quyết định từ hôm nay. Vui vẻ, hạnh phúc, giầu sang, danh giá, khỏe mạnh thì hưởng; ngược lại, buồn khổ, bất hạnh, nghèo túng, bệnh tật thì phải ráng để vượt qua. Quan niệm này tương tự như quan niệm về đời sống hôn nhân, cách riêng đối với phụ nữ Việt Nam mà ta vẫn thường nghe nói hay đề cập tới: “Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu!”. Tuy nhiên, lời của Thượng Đế không chỉ là một ý niệm hay triết lý sống, mà nó là một lệnh truyền, một giao ước giữa hai người mang tính cách vĩnh viễn.
Đối với những người không tin vào giá trị, không tin vào sự bền vững, và không tin vào giá trị vĩnh viễn của hôn nhân thì đòi hỏi đó rất vô lý, và khó lòng thực hiện. Nó trói buộc khả năng, ý chí thay đổi và là nền tảng cho những bạo hành trong gia đình.
Trong thực tế, nhiều người chồng đã coi tờ giấy hôn thú như một bảo đảm cho cung cách, lối sống hay hành động mang sắc thái “gia trưởng” của mình. Không chỉ riêng về phía nam giới, nữ giới cũng là nguyên nhân của bao đổ vỡ đắng cay cho hôn nhân, gia đình. Nhiều thử thách, nhiều nước mắt của những người chồng, người vợ, người con đã chảy ra vì tính cách ràng buộc này. Đòi hỏi bất di dịch của hôn nhân như thế không nhất thiết là một điều kiện cho hạnh phúc gia đình. Và câu hỏi được nêu lên là, đối với những nạn nhân của những hình thức bạo hành trong gia đình, của những đối xử bất công như vậy, liệu ly dị có phải là một trọng tội hoặc ngược lại là một giải thoát? Tại sao tôi lại phải gắn bó và thành tín với một người trong khi đó họ không hề quan tâm đến tôi và chung tình với tôi? Tại sao tôi lại phải chung thân giam mình trong cái địa ngục trần gia khi tôi có thể “kháng án” và để tìm cho mình một lối thoát an toàn? Và không phải chỉ mình tôi, mà còn cho cả con cái của tôi nữa???
Những hiện tượng gia đình đổ vỡ đang củng cố cho những quan niệm, những nhân sinh quan mới, những quan điểm và trào lưu tư tưởng mới dẫn đến ly dị. Và ly dị đã trở nên một hiện tượng của thời đại. Ngày nay, ly dị không còn bị chê bai, đàm phán, hoặc bị xã hội lên án nữa. Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngoại trừ một số quốc gia Hồi Giáo, ly dị đã được coi là một hành động hợp pháp. Nhưng khi xã hội chấp nhận ly dị thì không có nghĩa là luật “một vợ một chồng”, luật bất khả phân ly của Thượng Đế đã trở nên lỗi thời. Và Thượng Đế cũng đã lỗi thời!!! Giáo lý Công Giáo không luôn luôn cứng nhắc, một chiều. Nó vẫn có những khoản ngoại lệ cho những trường hợp mà tiếng chuyên môn gọi là “hôn nhân bất thành sự”. Trong những trường hợp như vậy, nếu xét có những lý do để biết đó là một hôn nhân không thành thật, không có chủ ý xây dựng, hôn nhân gượng ép, hôn nhân mà một trong hai người không có tự do thưa tiếng “có” hoặc tiếng “không”, và không có sự phán đoán trưởng thành, đối với những hôn nhân như vậy luật “bất khả phân ly” không áp dụng.
Tuy nhiên, như đã đề cập ngay từ đầu, bài viết này chỉ nhằm trình bày sơ lược những điểm tích cực về luật “bất khả phân ly” của hôn nhân Kitô Giáo dưới góc độ tâm lý để qua đó tìm một hướng đi tích cực và xây dựng, hơn là coi nó như một đòi hỏi vô lý, trói buộc và bất công đối với con người.

Bài học thiên nhiên
Đi tìm một câu trả lời cho luật “bất khả phân ly” thiên nhiên cũng đã dạy cho con người nhiều bài học rất ý nghĩa, đáng để suy nghĩ:
Truyện kể về loài chim. Đó là mội đôi thiên nga đang bay bên nhau trên nền trời xanh đẹp tuyệt vời. Không biết vì lý do gì một con bỗng rưng lảo đảo rồi lao xuống một triền đá chết. Con còn lại sau khi lượn quanh xác chết của bạn mình kêu lên những tiếng thảm thiết, rồi tự nhiên lao vút lên cao như để lấy đà rồi lao xuống ghềnh đá và chết cạnh bạn của nó.
Từ ý nghĩa của một câu truyện, và từ đời sống tự nhiên của nó, người ta đã thêu tặng nhau những bức tranh trong dịp cưới với hình một đôi thiên nga, vì thiên nga là loài vật có một gắn bó hôn nhân rất đặc biệt. Sau khi đã trải qua thời gian thử thách, tìm hiểu và đã chấp nhận sống với nhau, thì đây là một “hôn phối bất khả phân ly” đối với chúng. Có nghĩa là hai con thiên nga ấy sẽ sống với nhau, bên nhau cho đến chết. Không cãi vã, không ngoại tình, và không ly dị. Chúng chỉ có nhau và gắn bó với nhau ngay cả khi con cái chúng khôn lớn và bỏ chúng ra đi. Và nếu một trong hai chết, thì con còn sống sẽ “ở vậy” suốt đời mà không hề có chuyện “tái giá” hay “tục huyền”.
Cùng với loài thiên nga, phượng hoàng đầu bạc ở Bắc Mỹ, và loại chim két hoàng bích ở Úc Châu cũng có cùng một đặc tính “chung thủy” như vậy.

Hôn nhân nguyên thủy
Ngay cả nhiều Kitô hữu khi nói đến luật “bất khả phân ly” trong hôn nhân, ý nghĩ đầu tiên là cho rằng Thượng Đế quá khắt khe, quá ngặt nghèo, quá cứng ngắc. Ngài không thông cảm và hiểu những thách đố, khó khăn của đời sống hôn nhân.
Bất khả phân ly đối với đời sống hôn nhân. Đòi hỏi này xem như không bắt kịp trào lưu tư tưởng tiến hóa của con người thời đại. Làm gì có cái tuyệt đối trên cõi trần gian này. Theo quan niệm của những người chủ trương ly dị thì làm gì mà phải chung thủy? Tại sao lại phải sống chết với một người, khi người ấy gây phiền phức, khó khăn, khổ đau cho mình? Khi người ấy không đem lại hạnh phúc, giầu sang cho mình? Khi người ấy không tôn trọng mình, và chỉ lợi dụng mình? Khi người ấy không tỏ ra có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, và với hạnh phúc hôn nhân? Thiên hạ ly dị đầy đường có chết chóc ai đâu? Tại sao mình lại phải chịu trói buộc với một luật lệ xem như lỗi thời, thiếu thực tế như luật “một vợ, một chồng”. Và tại sao mình không thử một lần cho biết, may ra đổi được số mệnh???
Những suy nghĩ trên không chỉ nghe hợp lý và hấp dẫn, thực tế trong rất nhiều trường hợp, nó cũng đã trả lời cho hành động ly dị là đúng.
Trong một buổi hội thảo về hôn nhân, một câu hỏi đã được nêu lên với chủ ý nghi ngờ về giá trị của chung thủy. Người hỏi đã đưa ra một câu chuyện có thật mà anh đã gặp. Bạn anh sau một thời gian dài xung khắc, bất hòa, và cãi vã, vì bất mãn với cuộc sống hôn nhân, anh đã kết thúc nó bằng ly dị. Sau khi ly dị không bao lâu anh ta đã kết hôn với một phụ nữ khác, người mà theo anh đã mang lại cho anh thật hạnh phúc. Đây là một người đàn bà tuyện vời, một người vợ đúng ý anh. Người đó biết ý anh, biết chiều chuộng anh, săn sóc anh, và nhất là phục anh, coi anh như thần tượng. Anh đi đâu cũng mang theo người vợ này, rất hãnh diện giới thiệu với bạn bè. Những ai gặp anh và vợ anh đều công nhận hai người là một cặp vợ chồng hạnh phúc, xứng đôi, vừa lứa. Nghe trường hợp anh, hầu hết thính giả trong buổi hội thảo đều đồng ý ly dị của anh là tốt, và quyết định của anh là một quyết định đúng, nên làm và phải làm.
Tuy nhiên, khi đi sâu vào ý nghĩa của hôn nhân, vào cái mà Thượng Đế gọi là “bất khả phân ly”, ta mới hiểu rằng ly dị không phải là giải pháp cuối cùng và tốt nhất cho đời sống hôn nhân. Trường hợp người bạn “hạnh phúc” trên cũng là một thí dụ:
Trong khi anh đang vui vẻ với người vợ mới của anh, thì người vợ cũ của anh đang phải chống chọi với căn bệnh ung thư ở thời kỳ cuối. Ba đứa con anh đã được anh nhồi sọ bỏ rơi và không màng gì đến người mẹ đang đau khổ, bệnh tật của chúng. Lý do ly dị của anh đúng hay sai là tùy anh, nhưng những ai đã có dịp nghe câu truyện của cả hai bên, thì vợ anh mới là nạn nhân của luật ly dị. Bên trong con người coi như đạo đức, chừng mực, và khôn khéo ấy là một người cuồng say dục vọng, chủ quan, và bất trung trong nhiều trường hợp. Chính người vợ này đã xác nhận sức chị chịu đựng của chị với sự đau đớn của căn bệnh không cho phép chị làm gì hơn ngoại trừ chuẩn bị cho gia đình ngày ba bữa cơm, săn sóc cho ba người con, và lo lắng cho nhà cửa được tươm tất, sạch sẽ, gọn gàng. Chị không kêu ca, than vãn nhưng thật sự chị không còn nghị lực, sức khỏe và ham muốn để có thể thỏa mãn những đòi hỏi hàng đêm của chồng. Một điều mà chị chỉ suy nghĩ trong lòng mà không dám nói ra, đó là chị không biết phải cắt nghĩa sao khi đứa con gái của chị tuy đã lớn nhưng vẫn ngủ chung phòng với bố nó. Chính điều này làm chị suy nghĩ nhiều, rất khổ tâm, và đau lòng, và nếu có dịp đề cập đến việc này thì cả hai bố con đều gạt qua và luôn luôn to tiếng để chị phải im lặng. Mỗi lần như vậy, điều khiến chị phải chiến đấu nhất là không dám để trí tưởng tượng của chị đi xa hơn nữa, vì sợ nếu sự thật đó xảy ra giữa hai bố con, thì chị chỉ còn cách chết đi chứ không thể sống với cái tội lỗi ấy dày vò tâm hồn và thân xác của chị. Chị cũng thừa nhận rằng do sức khỏe đã ảnh hưởng mà nhiều lúc chị cũng thấy khó chịu, bực bội mỗi khi các con không tỏ ra vâng lời. Nhưng người lợi dụng sự xung khắc ấy là chồng chị. Và trong trường hợp này chị thật sự bị mang tiếng là người mẹ hà khắc, khó tính, không hiểu con cái, trong khi vô tâm, thiếu hiểu biết và chiều chuộng chồng.
Nếu câu truyện đúng như chị nói thì điều mà Chúa Giêsu đã xác định trong Thánh Kinh khi nhắc đến việc Maisen nói với những người Do Thái, cho phép họ “ly dị” vì cái cứng lòng và lương tâm chai đá, thì trong trường hợp này, nó phát xuất từ chồng chị, mà chị là nạn nhân của những sai phạm ấy.

Trưởng thành tâm linh
Lương tâm, tiếng nói thầm kín Thượng Đế dùng để nhắc nhở mỗi người về những quyết định hành động của họ. Sự trưởng thành của tâm linh cũng phát triển đồng đều với sự trưởng thành về mặt tâm lý đạo đức. Nhờ sự trưởng thành này, con người mới biết dùng lý trí tự do và chọn lựa đúng cho những hành vi nhân tính của mình. Nhiều người tuy lớn tuổi, học thức, có danh vọng, nhưng tư tưởng, lời nói và hành động của họ vẫn là những con người ấu trĩ, nghèo nàn về quan niệm và đời sống tâm linh. Họ hành động theo bản năng, theo dục vọng đòi hỏi, và theo những quán tính sai lầm của mình. Thí dụ, hãnh diện vì mình đã qua mặt vợ hay chồng để không bị lộ tẩy về việc mình ngoại tình. Hãnh diện vì mình có nhiều liên hệ bất chính ngoài hôn nhân với nhiều người mà người khác vẫn cho mình là người tử tế, đạo đức.
Bằng hình thức này hay hình thức khác. Khi trầm lắng, lúc rộn ràng, khi êm đềm, lúc mạnh mẽ, lương tâm luôn luôn là tiếng nhắc nhở mỗi người trước một quyết định mà họ cần phải thực hiện. Đây là mực thước đúng nhất, tốt đẹp nhất cho mọi quyết định dù con người nghe hay không nghe nó. Hậu quả sau cùng của người từ chối tiếng nói lương tâm là từ từ tiếng nói ấy trở nên yếu ớt, bị lấn át, và đôi khi tắt tiếng trước những ồn ào, khua động của dục vọng, của ích kỷ và ham muốn cá nhân. Đến lúc này thì con người làm điều tội lỗi mà vẫn cho là tốt, là thông minh, là khôn ngoan.
Sự chai cứng, lạnh lùng trước tiếng nói lương tri liên quan đến đời sống hôn nhân, gia đình có khả năng làm tiêu tan hạnh phúc lứa đôi, làm đổ vỡ, và từ đó dẫn đến những quyết định ly dị. Tiến trình làm tắt tiếng lương tâm phát xuất từ tư tưởng, lời nói và hành động đi ngược lại với hạnh phúc, với tình yêu ngay từ ban đầu mà Thượng Đế đã dự định cho mỗi đôi hôn nhân.
Tại sao từ ban đầu Thượng Đế đã không cho phép ly dị? Thượng Đế khi kêu gọi con người bước vào đời sống hôn nhân, là Ngài đã có ý muốn họ hạnh phúc. Ngài biết sự chọn lựa và lời mời gọi ấy là tốt cho họ, bởi thế Ngài không muốn họ thay đổi: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19: 6). Đó là luật, nhưng là một luật êm ái, luật bảo vệ hạnh phúc hôn nhân cho con người. Bước vào đời sống hôn nhân là tự chọn và sẵn sàng tuân thủ lề luật ấy. Sẵn sàng chấp nhận “luật” ấy bằng sự đáp trả của hiểu biết, tự do và tiếng nói của con tim. Không ai bắt buộc phải lấy người mình không muốn lấy. Và cũng không ai có quyền dùng sức mạnh, tiền bạc, hoặc quyền lực để cưỡng ép, chiếm đọat tình yêu người khác. Đó cũng là lý do tại sao mà giáo lý Công Giáo đã đề cập đến những nguyên nhân bất thành sự của một cuộc hôn nhân. Tình yêu trong hôn nhân, do đó, là một đáp trả tự do, công bằng, và trưởng thành. Tình yêu này phát xuất từ tình yêu của Thượng Đế. Vì yêu thương con người, Ngài đã chia sẻ tình yêu này với chúng ta. Thánh Kinh cho chúng ta biết về sự chia sẻ này qua chính lời của Thượng Đế: “Chúng ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh chúng ta” (Sáng Thế 1:26). Con người “có nam có nữ” (1:27) đã xuất hiện cũng chính từ tình yêu này. Do đó, khi đáp lại tiếng gọi con tim của nhau trong đời sống hôn nhân là con người chia sẻ thứ tình yêu cao cả đến từ Thượng Đế cho nhau. Như vậy, luật một vợ một chồng, luật chung thủy không phải là do tôn giáo hay con người bày đặt và áp đặt trên con người. Đó là luật của Thượng Đế. Luật của lương tâm.
Hôn nhân, do đó, không phải là một khế ước đơn thuần của xã hội, một định chế xã hội. Nó cũng không phải là một đáp trả có tính cách tình cảm dựa trên thôi thúc của dục vọng. Hôn nhân, theo cái nhìn tâm linh là một ơn gọi. Một lời đáp trả trực tiếp đối với Thượng Đế về sự chọn lựa bậc sống của mình, cũng như sự đáp trả tiếng gọi của con tim, của tình yêu giữa hai người. Và đó chính là lý do tại sao Thượng Đế đã không cho phép con người ly dị. Sự ràng buộc thiêng liêng này cũng chính là dấu hiệu của sự trưởng tâm lý đạo đức trong vấn đề lựa chọn mà nó sẽ đem lại hạnh phúc cho những người bước vào đời sống hôn nhân. Người ta sẽ hãnh diện và hạnh phúc với sự chọn lựa của mình.
Con người có thể coi thường lời hứa và coi thường tình cảm của nhau, nhưng đối với Thượng Đế thì không. Những gì Ngài đã hứa, và những gì Ngài trao tặng nó phải mang tính cách vững bền, không thay đổi. Ngài không bao giờ làm một việc gì mà không nhìn đến hạnh phúc của con người và mỗi chúng ta, dù ta có nhìn nhận sự đó hay không. Tình yêu mà Ngài mời gọi họ bước vào. Tình yêu mà Ngài san sẻ cho hai người để trao cho nhau phát xuất từ sự thánh thiện và bền vững ấy. Do đó, khi con người phản bội nhau, cũng có nghĩa là phản bội Thượng Đế.
Các quan tòa, các thẩm phán, các luật sư và ngay cả các người liên quan đến việc ly dị, chắc chắn ai cũng đều biết rõ điều này là ly dị, một nghĩa nào đó là phản bội. Nhưng sở dĩ con người vẫn phản bội Thượng Đế và phản bội nhau, bởi vì lòng dạ họ cứng cỏi (xem Mat 19:8). Luật cho phép ly dị của các quốc gia hiện nay trên thế giới chính là một hành động nói lên “cái cứng cỏi” của lương tâm ấy.

Trưởng thành tâm lý
Nhìn vào những lý do ly dị hiện nay, hầu hết các trường hợp ly dị đều dựa vào lý do: “Những khác biệt không thể hàn gắn được” - Irrecconcilable differences. Điều này được coi là một sáng kiến khôn ngoan, nhưng cũng đầy lật lọng, đầy gian dối của các quan tòa và các luật sư biện hộ. Nó cũng là lý do để những nguyên đơn có thể dựa vào đó để tự trấn át lương tâm mình.
“Những khác biệt không thể hàn gắn được” - Irrecconcilable differences. Trong thực tế, ai có thể chứng minh được những khác biệt không thể hàn gắn ấy là những khác biệt nào, và chúng đến từ nguyên nhân nào, ngoại trừ người đứng đơn ly dị! Trong cuộc sống hôn nhân tự nó đã mang hình thức khác biệt. Một người đàn ông sống với một người đàn bà là khác biệt rồi. Tuổi tác của người chồng đối với người vợ là một sự khác biệt. Tiếp nối là hàng trăm những khác biệt đến từ tâm lý, văn hóa, di truyền, giáo dục, nghề nghiệp. Những ảnh hưởng xã hội, quan niệm về phái tính, quan niệm về chính trị, quan niệm về tôn giáo… đặc biệt là cái tôi ích kỷ của mỗi người, để từ đó dẫn đến việc chối từ nhau, loại bỏ nhau. Những lý do này được gói trọn vào một câu: “Những khác biệt không thể hàn gắn được” - Irrecconcilable differences.
Từ góc nhìn tâm lý, quyết định ly dị không chỉ đơn thuần là nhằm tránh đi “những khác biệt không thể hàn gắn được”. Đúng ra, nó là một quyết định phản bội với một lựa chọn mới. Người Việt Nam gọi đây là hành động “có mới nới cũ”. Và đây cũng là một trong hai định luật thường chi phối đời sống hôn nhân, bao gồm sự dung nhượng về sắc đẹp, và bão hòa về tình cảm và tình dục.

Có mới nới cũ
Trước khi kết hôn, đa số vẫn nghĩ rằng người yêu của tôi là nhất: đẹp nhất, giỏi nhất, thông minh nhất, dễ thương nhất, dịu dàng nhất, nhu mì nhất… Những nét duyên dáng ấy là những gì làm thổn thức lòng nhau, cuốn hút và làm cho hai người say đắm nhau. Tiếng chuyên môn gọi là chemical attraction - Quyến rũ sinh vật, một sự thôi thúc, quyến rũ mà chỉ có ta đối với người nào đó, và người nào đó đối với ta khiến lòng trở nên say đắm. Nó cũng có thể coi như tiếng sét ái tình, thường làm ta bàng hoàng, ngỡ ngàng, và thổn thức.
Nhưng với thời gian, và với sự lơ là của tình cảm, sức hấp dẫn ấy đã từ từ nhường chỗ cho một sức hấp dẫn khác. Hình ảnh ban đầu nay trở nên lu mờ, biến dạng nhường chỗ cho một hình ảnh mới. Nếu việc này xảy ra thì đó là một hành động phản bội, bất trung. Hành động này đương nhiên đưa đến đổ vỡ niềm tin nơi nhau, và tạo cơ hội để xa cách nhau mà không cần phải có nhiều những khác biệt không thể hàn gắn. Nhiều người, theo quan niệm Việt Nam đã đổ lỗi cho hành động phản bội này bằng câu ca dao tục ngữ: “Gái tham tài, trai tham sắc”. Nhưng tận cùng sự tham lam đó cũng chỉ là để bào chữa cho hành động phản bội, hành động thiếu trưởng thành về mặt tâm lý và tâm linh. Chúng ta không thể dựa vào cái đam mê, thích thú của sắc đẹp, của tài năng mà phản bội nhau. Hành động thích và ham ở đây không mang nghĩa tích cực là khuyến khích chồng vợ mình đổi mới, học hỏi để đẹp hơn, khá hơn, dễ yêu hơn, mà là bỏ đi cái mình đang có vì một cái mới hơn. Câu hỏi được đặt ra đối với những người phản bội, đó là bạn đã làm gì để hóa giải được những khác biệt giữa vợ chồng bạn? Không lẽ bạn cứ phải đổi thay mãi vì những khác biệt đó sao? Ca dao Việt Nam cũng có câu: “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”. Bạn đi đâu tìm được người hoàn toàn theo ý bạn. Và bạn đã tuyệt vời cho sự chọn lựa của một ái đó chưa?
Gọi hành động bỏ đi và chọn lưa này là phản bội, vì chẳng ai dại gì bỏ đi cái mà mình đang có, họa chăng là đổi lấy cái mà mình cho là tốt hơn. Nguyên tắc tâm lý này đã được chứng minh trong hầu hết các trường hợp ly dị. Đối với quyết định và hành động chọn lựa nguyên tắc vẫn là bỏ đi cái gì xấu mà chọn cho mình cái gì là tốt hoặc tốt hơn. Và trong khi chọn lựa, buộc lòng ta phải hy sinh một để chọn một. Như vậy khi đã có vợ hay chồng rồi mà lại nghĩ đến việc chọn lựa khác, tất nhiên phải hy sinh cái mình đang có. Cái đó là vợ hoặc chồng mình.

Nhu cầu tình dục
“Chán cơm thèm phở”. Điều này thường xảy ra khi mà những hấp dẫn của thể xác không còn tạo được sức thu hút của dục vọng. Hoặc khi mà những lý do thể lý không đem lại thỏa mãn cho một hoặc hai người. Do sự ham muốn và ích kỷ của một người, và do khả năng thể lý không thể đáp ứng của một người. Trường hợp này cũng tương tự như trường hợp của người được nêu lên trong câu hỏi khi trình bày về giá trị nguyên thủy của hôn nhân. Một đàng đòi thỏa mãn, một đàng không có khả năng cung cấp. Kết quả hiện tượng này đã tạo nên sự dồn nén, bất mãn cho cả hai để rồi từ đó nảy sinh những nghi ngờ, cãi vã và đổ vỡ. Trong tâm lý hôn nhân, nhu cầu và bản năng tình dục được coi như một trong những lý do dẫn đến hạnh phúc hay đổ vỡ. Tình dục trong của hôn nhân theo Tomas dAquinas đó là “nên một với người yêu”. Nên một ở đây chính là sự hòa hợp, quyến luyến với nhau qua hành động ân ái vợ chồng, nôm na là hành động sinh lý.
Sự hòa trộn sinh động và hấp dẫn ấy một mặt đặt trên nhu cầu và bản năng của con người, mặt khác nó được nuôi dưỡng bằng tình cảm lãng mạn, nhất là tình yêu chân thành. Do đó, hành động ân ái của vợ chồng qua cái nhìn của tình yêu không chỉ là những va chạm thể lý, những khoái cảm của xác thịt nhưng nó là sự trao ban và lãnh nhận, sự hòa tan trong tình yêu của hai người. Bởi đó hành động này không thể bị coi thường, ghê tởm mà còn là hành động thánh thiêng, cao đẹp của hôn nhân. Chính vì thế, khi một người ngoại tình, tức là làm cho hành động sinh lý của mình trở nên nhơ bẩn, ghê tởm, và đáng khinh bỉ. Nó cũng làm cho người liên quan đến những hành động ấy trở thành đáng kinh bỉ. Từ ngữ bình dân gọi là lăng loàn, đĩ thõa, gian dâm, còn văn chương tâm linh gọi đó là hành động “dâm dục”. Người đàn ông đã có vợ làm chuyện này là “dâm phu”, và người đàn bà đã có chồng mà cũng làm việc đó là “dâm phụ”. Cả hai đều bị lên án và coi thường trước mặt xã hội.
Tóm lại, tình trạng ngoại tình dù trong tư tưởng hay hành động trên căn bản xác thịt đều là những hành động phản luân lý, đạo đức, và dĩ nhiên cũng là những hành động nói lên tính cách thiếu trưởng thành, và ích kỷ của một người.

Hôn nhân bất khả phân ly
Trở lại câu truyện một loài chim, thiên nhiên đã cho con người một bài học rất bổ ích, đầy ý nghĩa về lòng chung thủy và nghĩa vợ chồng. Điều này minh chứng rằng Thượng Đế và tôn giáo đã không đặt trên vai con người những gánh nặng cồng kềnh không thể mang vác, hoặc đòi hỏi những điều xem ra vô lý. Luật bất phân ly của Thượng Đế đúng hơn là nhằm để duy trì và phát triển tình yêu và hạnh phúc hôn nhân. Giới hạn những lạm dụng của con người, và nhằm tăng giá trị của hôn nhân, của lựa chọn của con người.
Hình ảnh hạnh phúc của hôn nhân qua cái nhìn Thánh Kinh cho thấy Adong đã hớn hở, vui mừng khi đón nhận Evà từ tay Thượng Đế. Ông hạnh phúc và sửng sốt kêu lêu khi đứng trước Evà: “Đây là xương của xương tôi, thịt của thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (2:23). Văn chương Việt Nam đã diễn tả mối tương quan này bằng một tiếng gọi rất thân thương, rất gần gũi, và cũng rất xác thịt, đó “mình”.Khi đã trở nên vợ chồng, cũng có nghĩa là trở thành thân thể của nhau. Ở nghĩa này, câu “hai ta tuy hai mà một” mới thực sự lột tả được ý nghĩa của nó. Chỉ có vợ mới có thể gọi chồng là “mình”, và chỉ có chồng mới có thể gọi vợ là “mình”. Người ngoài, dù là cha mẹ hay con cái cũng không dùng từ này để gọi nhau. Chính vì vậy, khi đã tự ý loại bỏ nhau, tự ý cho phép mình ly dị và dan díu với người khác là bỏ đi một phần của chính mình để đi tìm cái phần ấy của kẻ khác. Cũng có thể nói là đi ăn cắp, cướp giật phần của kẻ khác.
Chung thủy, tự nó cũng nói lên khía cạnh tích cực vì nó thôi thúc hai người phải có trách nhiệm nối kết, mang lại hạnh phúc cho nhau. Không có thứ hạnh phúc một mình trong hôn nhân, vì hạnh phúc của chồng cũng là hạnh phúc của vợ, và hạnh phúc của vợ cũng là hạnh phúc của chồng. Tâm lý học chứng mình rằng, trong đời sống hôn nhân, hễ người nào cứ mang ý tưởng “ly dị” trong đầu, hoặc những ai bước vào hôn nhân như một “trò chơi”, những người này trước sau cũng ly dị. Ngoài ra, những khảo cứu gần đây về lý do ly dị còn cho biết thêm là những ai đã một lần ly dị, họ thường là những người sẽ dễ dàng ly dị lần thứ hai hoặc thứ ba. Như vậy, khi Thượng Đế muốn con người bước vào đời sống hôn nhân bằng luật “nhất phu, nhất phụ” - một vợ một chồng - là Ngài muốn cho con người sống mà không phải xao động, phải hối hận, và phải phân vân về chọn lựa của mình. Lo lắng, hối hận, hoặc phân vân nói lên tâm trạng bất an, thiếu trưởng thành, một tâm lý tiêu cực không đem lại hạnh phúc.
Tóm lại, với những yếu tố thiên nhiên, tâm lý và tâm linh, và với cái nhìn tích cực, thì hôn nhân một vợ một chồng là một hôn nhân không vượt quá sự cố gắng của con người. Nó cũng không phải là gánh nặng mà Thượng Đế đã cố tình đặt trên vai con người, nhưng chỉ nói lên đó là một hồng phúc. Thật vậy, chỉ khi nào chúng ta bình tâm, sâu lắng và thành thật với mình, chúng ta sẽ nhận ra người vợ hay người chồng của mình chính là một tặng vật vô cùng quí giá và không thể thiếu trong cuộc đời và trên hành trình trần thế mà chính Thượng Đế đã ban tặng, và cũng do chính chúng ta đã lựa chọn.
“Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19: 6).

Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/tam-ly-hon-nhan-mot-goc-nhin-tam-ly-dao-duc-ve-bat-saAKduq6.html
Bạn thích bài này?
Bookmark and Share

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Advertisement Advertisement  
Quảng cáo
RAO VẶT VIỄN ĐÔNG
Quảng cáo
Quảng cáo
Sản phẩm - Dịch vụ

Chọn lựa đầu tư trong quĩ hưu 401 K (bài 2)

Bài trước chúng ta đã bắt đầu nói đến cách thức đầu tư trong quĩ hưu 401 K. Để đáp ứng nhu cầu của người đầu tư bình dân, các chuyên viên tài chánh đã “tạo ra” các Mutual Funds, rồi phân hạng chúng theo mức độ rủi ro. Hai sáng kiến này đã đơn giản hóa vấn đề chọn lựa đầu tư khá nhiều. Nhưng cuối cùng chúng ta – và chính chúng ta

Chọn lựa đầu tư trong Quĩ Hưu 401 K

Như chúng ta đã biết, mở quĩ hưu 401 K là một hình thức đầu tư. Mà đầu tư thì luôn luôn có may rủi. Nếu thuận buồm xuôi gió, gọi chung là “may,” chúng ta sẽ được lời nhiều, có thể gấp đôi, gấp 3 hoặc gấp cả chục lần. Nếu sự việc không xảy ra như mong muốn, gọi chung là “rủi,” chúng ta sẽ được ít lời

Quĩ hưu 401K: Nên chăng?

Bài trước chúng ta đã đề cập những lợi điểm căn bản của Quĩ Hưu 401 K. Chỉ nghe nói về những lợi điểm ấy, chắc ai cũng muốn có một quĩ hưu như vậy. Nhưng thực tế thì sao? Có khá nhiều người có đủ tiêu chuẩn mở Quĩ Hưu, nhưng lại bỏ quyền lợi ấy. Còn những người thực sự tham gia, thử hỏi mấy ai nhìn thấy đồng tiền

Món quà của Uncle Sam: 401 K

Làm dân Mỹ là phải biết Uncle Sam, một người “chú” không mấy được ưa thích do bản tính thích đòi hỏi tiền bạc từ trong túi người dân. Uncle Sam, biệt danh của Sở Thuế Liên Bang, chả mấy khi cho ai quà cáp gì. Nhưng nói thế không có nghĩa là không bao giờ có. Trong số những món quà ít ỏi mà Uncle Sam dành cho người đi làm và đóng

Đi tìm một cách tránh thuế?

Lần trước, chúng ta có đề cập việc sử dụng “quĩ hưu” để có thêm quyền lợi cho tuổi già. Trước khi xem xét chi tiết của từng loại quĩ hưu, chúng ta cần biết tác dụng của thuế đối với các quĩ này như thế nào. Trước tiên, thuế được hiểu là số tiền chúng ta phải trích ra từ những gì mình nhọc công tích lũy được

Quyền lợi của tuổi già?

Đọc cái tiêu đề trên, chắc nhiều người nghĩ tới … tiền già (tiền SSI), là khoản tiền mà xã hội Hoa Kỳ biếu không cho những người từ 65 tuổi trở lên, hoặc bệnh tật ngặt nghèo, không còn đủ sức khỏe đi làm tự nuôi sống bản thân, mà quá trình đóng góp khi còn đi làm việc cũng không đủ bảo đảm một lợi tức tối thiểu để sinh sống.

Dùng ‘đòn bẩy’ khi mua nhà

Đòn bẩy là một nguyên tắc vật lý, được ứng dụng để nâng nhắc đồ vật cho dễ dàng hơn. Biết áp dụng nguyên tắc này, chúng ta có thể nâng được những thứ rất nặng nề mà chỉ cần bỏ ra một phần công sức không đáng kể. Hình ảnh rõ ràng nhất là một người đang muốn lăn một hòn đá lớn, nặng tới vài trăm ký

Đánh giá thị trường địa ốc qua Appreciation Rate

Với một căn nhà mua $330,000 mà bán $550,000, nhiều người cho rằng người chủ nhà đã lời được $220,000. Không hẳn đó là số tiền người bán nhà đút vào túi mình đâu. Đó mới là mức sai biệt giữa hai con số.

Giá nhà tôi định mua có cao quá không?

Câu hỏi trên có thể đặt lại một cách cụ thể hơn: Chúng ta phải dựa vào những tiêu chuẩn nào để biết rằng giá nhà đã quá nóng, có thể dẫn đến nguy cơ “nổ bong bóng,” hoặc giá nhà đã sụt giảm đến mức gần như … cho không.

Mua hay thuê nhà: Khi nào nên mua nhà? (bài 3)

Qua hai bài trước về việc “nên mua nhà?” và “nên thuê nhà,” chắc thế nào cũng có người cho rằng tôi cổ võ việc đi thuê và chống lại việc mua nhà. Thực ra, tôi chỉ trình bày những lý lẽ hơn thiệt, dựa vào các con số khách quan, chứ không chủ trương cổ võ giải pháp nào hoặc chống lại giải pháp nào
Quảng cáo