Sunday, 13/05/2018 - 11:12:38

Thư pháp gia Hà Trọng Đức và Thư Pháp Tâm Linh

Ngôi nhà tâm linh của người Việt tại Quận Cam (kỳ 37)

Bài BĂNG HUYỀN


Thư pháp gia Hà Trọng Đức và Thư Pháp Tâm Linh
Xin chữ và cho chữ thư pháp của người Việt vốn là một nét văn hóa truyền thống độc đáo và đặc sắc được truyền từ Trung Hoa sang, và khi có chữ quốc ngữ thì được Việt hóa thành năm kiểu chữ chính chữ chân phương, chữ cách điệu, chữ cá biệt (chữ cuồng thảo), chữ mô phỏng và chữ mộc bản.


Thư pháp gia Hà Trọng Đức viết thư pháp tặng bá tánh.

Thư pháp là một môn nghệ thuật độc lập và là một phần trong bố cục hội họa theo phong cách cổ Trung Hoa. Là một nghệ thuật có tính phô diễn khí phách của con người, hội tụ đủ cả Trí - Thần - Lực của người cầm bút, dùng để bày tỏ tâm thái, cảm quan của người viết, hướng đến nhân sinh quan với những giá trị đạo đức và mỹ học.


Thư pháp gia Hà Trọng Đức viết thư pháp

Những ai có duyên gặp thư pháp gia Hà Trọng Đức để xin chữ từ ông trong dịp Tết Nguyên Đán hay dịp lễ Gia Tộc tại trụ sở Hội Tâm Linh, Hội Xuân do Cộng Đồng Việt Nam Nam California tổ chức, và những dịp lễ lạt khác tổ chức nhiều nơi trong cộng đồng quanh khu vực Quận Cam,à sẽ thấy rằng thư pháp của Hà Trọng Đức không chỉ hội đủ Trí Thần Lực của người cầm bút, mà thư pháp của ông còn đặc biệt hơn những nhà viết thư pháp khác, được gọi là Thư Pháp Tâm Linh.

Người đến gặp ông Đức xin chữ, chỉ cần nói tên thật của mình ra, ông sẽ ghi xuống quyển sổ, sau đó ông ấn tâm xin với bề trên trong vài phút ngắn ngủi, rồi ông đặt bút và viết ra trên giấy những chữ thư pháp. Thường người xin chữ sẽ nhận được hai câu thơ vần điệu rất hay, xoay quanh tên của vị khách và ý nghĩa tâm linh dành cho vị khách. Chủ yếu nhắc nhở vị khách về đạo làm người, hiếu đạo, tạo phúc đức, hỷ xả, xóa bỏ chấp niệm, nuôi dưỡng từ tâm... để người nhận được chữ sẽ thân tâm an lạc, gặp may mắn, mọi sự hanh thông. Và cũng chính vì những câu chữ được ông Đức viết ra bằng ấn tâm với Bề Trên, nên những thư pháp người nhận được sẽ không ai giống ai, không giống như những thư pháp được viết sẵn của các thư pháp gia khác.


Thư pháp bằng bút lửa của Hà Trọng Đức.

Hầu hết những câu thơ được ông Đức viết thư pháp cho bá tánh đều có lời khuyên răn rất chính xác với tính cách của người xin chữ. Điều đặc biệt khi xin chữ với thư pháp gia Hà Trọng Đức, người xin chữ nếu chưa hiểu rõ nghĩa của thư pháp mình nhận được, thì có vợ của ông là bà Sương Huỳnh giúp giải nghĩa cho người xin chữ hiểu được sâu xa câu thơ mà họ nhận được.

Việc xin chữ và giúp giải nghĩa này của hai vợ chồng ông không đòi hỏi thù lao. Ai muốn tùy hỷ đóng góp thì cứ bỏ vào một cái hộp trên bàn nơi ông Đức ngồi viết chữ. Người nào không có tiền để gửi, ông vẫn không phiền lòng. Vì số tiền của đồng hương gửi tặng đều được vợ chồng ông gửi về Việt Nam giúp các chùa nuôi dưỡng các trẻ mồ côi, khuyết tật, người nghèo khổ, kém may mắn.

Còn tiền mua giấy, bút mực để viết thư pháp đều được ông Đức tự bỏ tiền túi ra để thực hiện. Vì đây là tâm nguyện được ông Đức nguyện trước Bề Trên, ông ước mong qua Thư Pháp Tâm Linh mà Bề Trên đã cho ông khả năng ấn tâm viết ra, sẽ gieo duyên lành, giúp được nhiều người trở về với cội nguồn tâm linh, tu tâm sửa tánh để tìm được an lạc ngay trong cuộc đời có quá nhiều bất an này. Cả hai vợ chồng ông đều là thành viên của Hội Tâm Linh.

Ngoài viết thư pháp trên giấy, ông Đức còn viết thêm bằng bút lửa. Thư pháp bằng bút lửa được ông sử dụng bằng cây bút lửa (là loại bút dùng điện làm nóng sợi dây đồng trên ngòi bút để vẽ) viết trên những tấm gỗ. Do ngòi bút rất nóng, bắt lửa nhanh, nếu chỉ cần giữ quá vài giây trên mặt gỗ vết cháy sẽ loang ra mất nét, vì vậy muốn có tác phẩm đạt độ tinh xảo đòi hỏi ông phải tỉ mỉ, chính xác trong từng chi tiết.

Cơ duyên viết được Thư Pháp Tâm Linh

Ông Hà Trọng Đức chỉ mới có khả năng viết Thư Pháp Tâm Linh trên giấy từ năm 2011 đến nay, còn viết thư pháp bằng bút lửa thì ông mới viết được khoảng vài tháng nay. Cả hai nghệ thuật này đều do ông Đức tự học. Ông cho biết ông có được khả năng này là từ sự cầu nguyện thành tâm chuyển hướng cho tâm linh.
Tất cả những gì ông làm được là do tâm hướng thiện, và Bề Trên vị Thầy độ của ông đã khai minh trí cho ông có khả năng này. Không chỉ viết Thư Pháp Tâm Linh bằng tiếng Việt, mà ông còn viết bằng tiếng Anh giúp bá tánh khi có duyên gặp ông, trong thời gian khoảng một năm ông ra Hawaii làm việc vài năm trước.
Bà Sương Huỳnh, người bạn đời của ông trên ba mươi năm qua chính là người trợ giúp cho ông không ít trong việc trở về với cội nguồn tâm linh bằng sự thành tâm cầu nguyện của mình. Bà kể, “Gia đình tôi vốn theo đạo Phật, vì vậy tôi hiểu nhiều về giáo lý Phật giáo, nhưng anh Đức thì không tin vào tôn giáo nào hết. Anh không nghe kinh kệ, không nghe giảng pháp, nên chẳng biết gì về Phật Pháp, luật nhân quả. Khi kết hôn, tôi có rủ anh đi chùa nghe giảng Pháp với tôi, nghe kinh kệ với tôi, nhưng anh không nghe.

“Anh có tính tình rất nóng nảy, khi gặp chuyện bất bình, tính sân nổi lên là đánh người, nhưng may là không đánh vợ, con, chỉ đánh người ngoài thôi. Nhờ vậy tôi mới ăn đời ở kiếp với nhau đến giờ. Những lúc anh nóng giận, cứ sân lên, gây gổ, đánh đấm bên ngoài chẳng hề nghĩ đến hậu quả gì hết. Tôi chỉ biết cầu nguyện ơn trên giúp chuyển hóa tâm tánh của chồng tốt hơn. Tôi cầu nguyện rất thành tâm và kiên trì suốt như thế cả một khoảng thời gian dài.”

Ông Hà Trọng Đức cho biết bản tính nóng nảy của ông được dịp bộc phát càng ngày càng mạnh sau biến cố tháng Tư năm 1975, miền Nam bị mất vào tay cộng sản, đất nước nhiễu nhương, biến động. Trước khi sang Mỹ định cư vào cuối thập niên 1980, lúc còn ở Sài Gòn ông từng đánh đại úy công an phường, từng phải bỏ trốn khiến vợ con lao đao một thời gian. Và còn rất nhiều chuyện không hay mà ông không muốn nhớ đến cũng vì tính nóng nảy, đánh người của ông mà ra.

Ông nói, thường những người ông đánh, đều là những kẻ xấu, đáng bị đánh, nhưng sau này hiểu về tâm linh, ông thấy việc ông từng làm trong quá khứ không đúng, để bản thân dễ dàng bị người khác khiêu khích cơn nóng giận bùng phát rồi để lại biết bao hậu quả, làm khổ vợ con là sai vô cùng.

Sang Mỹ định cư, nơi vợ chồng ông sống tại thành phố Reseda từ đó đến nay, những ai quen biết ông nơi này cũng đều biết tính nóng như lửa của ông.



Bà Sương Huỳnh vợ thư pháp gia Hà Trọng Đức (áo màu đỏ), giúp giải nghĩa thư pháp.

Thư pháp gia Hà Trọng Đức viết thư pháp

Thư pháp bằng bút lửa của Hà Trọng Đức.

Thư pháp gia Hà Trọng Đức viết thư pháp

Nhưng đến năm 2011, nhiều chuyện không may đến với gia đình ông, cơ sở làm ăn của vợ chồng ông tại Reseda gồm có tiệm nail hair, food to go, beauty supply vốn buôn may bán đắt, từ từ bị ế ẩm rồi phải khai phá sản, còn vợ ông thì phát hiện bệnh bứu cổ, sau khi mổ xong, một thời gian biến chứng có dấu hiệu nổi hạch nghi ung thư.

Nhưng rồi duyên lành đưa đẩy vợ ông biết đến Hội Tâm Linh và vợ đề nghị ông đưa bà đi sinh hoạt với Hội, rồi bản thân ông ban đầu tò mò vì hiếu kỳ, dần dà gắn bó với Hội luôn, lúc đó ông lại muốn học viết thư pháp, từ từ việc luyện thư pháp đã giúp ông tu tâm sửa tánh thành một người khá ôn hòa như hiện nay. Dù trước đây là một người không tin vào tôn giáo, nhưng nay thì ông tin rằng chính sự cầu nguyện không ngơi nghỉ với Bề Trên của vợ mình đã giúp chuyển hóa con người ông.

Bà Sương Huỳnh kể, “Khi anh Đức luyện viết thư pháp, đặc biệt là mỗi khi cơn sân, giận nổi lên, khiến anh cầm cây viết, viết ra những câu mà trước đó anh chưa bao giờ biết. Anh chưa bao giờ học Hán tự, cũng không đọc kinh sách Phật giáo, chẳng đọc sách báo gì về tâm linh, nhưng viết ra những câu chữ răn dạy ý tứ rất hay về việc tu sửa tánh tình. Đây có thể nói là một phép lạ, Ơn trên ban cho anh khả năng đặc biệt.
“Hồi đầu lúc anh mới tập viết thư pháp, khi anh viết xuống, tôi nhìn vào đọc lên thấy những câu này chính yếu là để dạy anh. Khuyên răn bỏ tính nóng giận. Khi đó nét viết ban đầu của anh vẫn chưa ra cách viết thư pháp. Anh mua cây cọ chấm màu nước viết ra, chưa phải viết bằng mực tàu. Từ những chữ anh viết càng ngày càng sắc nét và đẹp hơn, ý tứ câu chữ tuôn ra cũng nhiều hơn. Những câu chữ viết ra, dần dần giúp anh chuyển hóa được tâm tánh. Tánh tình của anh thay đổi từ từ, chứ không thay đổi ngay. Lâu lâu cũng nóng giận lên, sau đó anh lại sửa.

“Ngày xưa những lúc anh nóng giận, cứ sân lên, gây gổ bên ngoài, vợ chồng lục đục, khi đó anh chẳng hề biết đến hậu quả gì hết. Cũng giống như một người lái xe, chỉ biết đạp gas để rồi phải lủi vô cột đèn, chứ không hề biết đạp thắng. Nhưng về sau từ khi được Bề Trên ấn tâm cho khả năng viết Thư Pháp Tâm Linh, thì anh đã biết thắng lại, biết rằng cứ đạp gas lủi vô cột đèn thì không có tiền để sửa xe. Ngày xưa nóng tính thì không biết mình nóng, cứ làm cho đã nư mình. Sau này biết nóng vậy là không đúng, biết kềm lại, biết nghĩ đến hậu quả.”

Ông Đức cho biết ngày xưa ông chạy theo danh vọng, tiền tài, còn bây giờ thì quay trở về lại với cội nguồn tâm linh của mình. “Việc tu sửa tính tình của bản thân tôi luôn gặp nhiều thử thách. Ví dụ tôi xin Ơn Trên giúp tôi đừng nóng tính nữa. Nhưng có những chuyện xảy ra, chọc tính nóng của mình nổi lên. Quên thì nóng tính lên. Khi tôi ngồi viết trong Hội Tâm Linh cho bá tánh, tôi ít bị thử thách tính nóng giận của mình. Nhưng khi ra bên ngoài ngồi viết, tôi thường bị thử thách. Ví dụ như có người đến nhìn tôi nói, bói toán gì đây, với thái độ xem thường. Viết lấy bao nhiêu tiền vậy? Có lần đang ngồi viết trong một sự kiện tổ chức tại Mile Square Park, có một ông đến nhìn, nói viết thư pháp mà sao cầm cọ gì nhỏ xíu vậy. Nghĩa là tôi luôn gặp những người nói những câu để chọc tính nóng giận của mình nổi lên.

“Hồi chưa biết thư pháp để tu tâm sửa tánh, nghe những lời nói như vậy, chắc chắc cơn sân giận sẽ nổi lên, tôi sẽ gây gổ lại với người nói, nhưng những năm gần đây, tôi đã bình thản trước những câu nhận xét như vậy về mình. Nhờ quay trở về với cội nguồn tâm linh, tu sửa tánh tình qua viết Thư pháp, giúp tôi tập trung và hoàn toàn thả lỏng tâm tưởng và tinh thần để nhập tâm theo từng nét bút, càng ngày tôi thấy tâm mình nhẹ nhàng hơn xưa, không còn nghĩ đến dùng võ lực để giải quyết vấn đề nữa.”

Hầu như mỗi ngày ông đều viết thư pháp, có lúc Bề Trên ấn tâm cho ông viết ra rất nhiều câu chữ răn dạy rất ý nghĩa. Ví dụ như “Thư Pháp dưỡng tâm. Tâm linh dưỡng đạo. Đạo đức dưỡng nhân. Nhân đạo dưỡng hòa,” hay “Gia đình một thời ta ngã mạn. Vì thú vui, cá biệt riêng mình. Ngộ tỉnh thức, ta thấm nghiệp đời trần. Nhân và quả gieo gì ta gặt đó!” hay “Thiên địa nhân hòa. Hiếu đạo trọng đức,” hoặc “Phúc thiện hòa an khang thịnh vượng. Trọng đức tâm phú quý đắc tài,” và “Thấu hiểu tâm linh là hãy tự xét ta, nhìn lại chính mình,” v.v..

Ông luôn tiếc giấy và quý chữ. Những thư pháp ông viết ra, ông lưu giữ lại rất nhiều, không bỏ đi tờ nào. Cũng có lúc vì bận bịu giữ cháu giúp vợ chồng con gái, ông lại viết không ra được ý tứ nào hết. Nhưng ông luôn không quên cầu nguyện với Bề Trên và gắng sửa đổi tánh tình, gắng làm theo ý tứ mà ông nhận được khi ấn tâm viết ra, để rồi khả năng ấn tâm viết thư Pháp trở lại. Điều huyền diệu đặc biệt là vợ ông sức khỏe hồi phục, những cục hạch nghi ung thư tự dưng lặn hết, không cần phải hóa trị nữa, bác sĩ chuyên khoa cũng rất ngạc nhiên, nhưng vẫn tiếp tục theo dõi 3- 6 tháng để yên tâm bệnh không trở lại.

Nói về khả năng viết Thư Pháp Tâm Linh, ông Đức cho biết, “Khi viết chữ cho người nào, thì tôi xin với Bề Trên, lúc đặt bút viết, thì chữ cứ thế tuôn ra. Nhiều người sau đó gặp lại tôi cho biết những chữ tôi viết ra cho họ, rất đúng. Có lần tôi gặp một người ngồi xuống xin tôi viết chữ, tự dưng tôi buột miệng hỏi ông ta, lúc này có còn chửi thề hết. Ông đỏ mặt lên, nói vẫn còn chút chút. Tôi kêu ông ta nói tên của ông để tôi viết. Khi ông nói tên của ông, tôi cho biết tên này tôi viết không được. Nghe vậy ông ấy mới nói đây là tên giả. Khi ông ấy nói tên thiệt ra, thì tôi được ấn tâm, thì mới viết ra được.

“Tôi chỉ có khả năng viết, còn bà xã tôi thì có khả năng đọc ra được ý nghĩa giảng giải của những chữ mà tôi viết. Bà xã tôi có khả năng này từ khi tôi được Bề Trên cho tôi khả năng ấn tâm viết chữ.”

Từ cá nhân mình đã tu sửa được tính tình nhờ Thư Pháp Tâm Linh, nên thư pháp gia Hà Trọng Đức có ước nguyện phổ biến được đến nhiều hơn bá tánh dòng Thư Pháp Tâm Linh. Vì ông tin rằng con người chịu quay về với cội nguồn tâm linh, Tâm mà sáng, Thiện thì giúp cho con người có được Chí, Khí, Đức, Tài, giúp con người ta tránh được cái ác, làm được những điều có ích cho người, cho đời, tạo cho bản thân nếp sống thanh bạch, cao thượng, đem lại hạnh phúc, an lạc cho chính mình và những người xung quanh.
(Còn tiếp)
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp