Sunday, 04/08/2019 - 11:32:52

Thức quê giữa chợ đời

Họ là những con ốc buồn, bò chậm, thi thoảng dừng lại nhìn quanh quất cuộc đời rồi lại bò. Họ đã chọn cho mình một góc đời nho nhỏ, giữa một góc thị trấn nho nhỏ, trong một góc chợ nho nhỏ...

Bài NGUYÊN QUANG

Thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, người thì gọi nó là thời đồ đểu, cũng có người gọi là thời hàng mã… Có vẻ như tên gọi nào cũng đúng, tên gọi nào cũng phù hợp. Bởi lẽ, thời bây giờ là thời đặc biệt nhất, nó đặc biệt vì nó nửa quê nửa chợ, nửa hiện đại nửa rừng rú, nửa văn minh nửa man rợ… Hai nửa ấy kết thành cơ thể kinh tế. Và, nói đến cái văn minh hay cái man rợ này, có lẽ phải bước ra chợ, ra siêu thị. Nghiệt nỗi, người quê không phải ai cũng có tiền để ra siêu thị, mà có tiền cũng chưa chắc đi được. Cái góc chợ quê, dù đã vắng bến nước, con đò, dù đã vắng nhiều thứ, vắng những bà nhai trầu nhuộm răng đen, vắng cả những ông gánh nước thuê vừa gánh vừa la hét người ta tránh đường, vừa chửi “tổ cha thời đại!” Vắng nhiều lắm. Nhưng đâu đó, có những góc khuất chợ quê, góc ngã ba đầu làng, một trời quê kiểng đang náu mình giữa thức quê.
 

Dường như ở chợ quê, người ta khó tìm thấy những thanh niên trẻ bán hàng như ở trong các siêu thị. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Sắn, khoai, bắp… những thức luộc sẵn hình như chỉ có thể tìm thấy ở chợ quê. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Chuyện xưa chuyện cũ…
Không biết quí vị có ai từng sống trong cảnh mà cuối năm, sương mù tháng Chạp chao chác ngoài hiên, vài cụm hoa vạn thọ, vài luống ngò, vài gốc tần ô, vài cây cải đơm hoa vàng… Không gian tĩnh như tranh thủy mặc bị phá tan bởi tiếng kẻng gọi chia thịt heo và sau đó là tiếng í ới gọi chia thịt của ông trưởng nhóm…
 

Những thức kẹo đậu phụng, mè… do chính tay các mẹ, các chị làm ra rồi mang bán. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Một góc chợ ngã ba làng, nơi đa phần người bán và người mua đều là phụ nữ. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Cũng xin nói thêm, đó là thời kinh tế tập thể, tập trung bao cấp, giới chức, cán bộ thì hưởng thịt, đường, nhu yếu phẩm, thực phẩm, lương thực, nhiên liệu, vải vóc… bằng tem phiếu và giấy thưởng. Còn người nông dân thì hưởng thành quả lao động mồ hôi nước mắt bằng mấy cái gạch, cái chấm của ông đội trưởng. Thời đó, cơ cấu kinh tế vùng quê được chia theo cấp hợp tác xã nông nghiệp. Mỗi xã có từ 2 đến 3 hợp tác xã nông nghiệp. Mỗi hợp tác xã được chia ra 10 đội sản xuất nông nghiệp, mỗi đội lại chia ra thành 10 nhóm sản xuất, và mỗi nhóm sản xuất có chừng 30 gia đình đến 50 gia đình, gọi là “hộ”.
Ông Chủ Nhiệm hợp tác xã được xem là ông vua, ông Đội Trưởng sản xuất được ví như ông nội của thiên hạ. Bởi cái chấm, cái phẩy của ông quyết định cái bụng của người nông dân lép hay căng. Thường thì nông dân làm ruộng phân chia rất rõ ràng, đàn ông đi cày, phụ nữ đi cấy, đàn ông nhổ mạ, phụ nữ cào cỏ… Và các chị em để giải khuây thường hát hò khoan, hát đối trong lúc cấy. Thời đó tuy đói nhưng ai cũng mê hát, hình như hát cho quên đói, hát cho đời bớt khổ!
 

Đâu đó trong góc hẻm chợ quê, kí ức về thời kinh tế tập thể vẫn còn trong hình ảnh củ sắn, củ khoai. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Ông Đội Trưởng nông nghiệp chỉ làm mỗi một việc là cầm cuốn sổ, đạp cái xe đi vòng vòng, lội xuống các đám ruộng, điểm danh từng người, người nào cấy nhanh thì ông phẩy một cái, được tính một công và hưởng 3 ký lúa, người nào ông không vừa mắt thì chấm một chấm vào sổ, được 1.5 ký lúa (hồi đó lúa rẻ lắm, nhưng nếu tính theo thời giá bây giờ thì 3 ký lúa cũng được 18 ngàn đồng). Đến cuối mùa, căn cứ vào số chấm, số gạch cộng lại mà đi nhận lúa về ăn. Tết thì bên hợp tác xã giao cho trưởng nhóm một con heo, tổ chức mổ và chia từng phần thịt, xương, lòng, bỏ trong mấy miếng lá chuối, giữa cái nong, ước chừng mỗi phần 3 lạng thịt và lòng, 2 lạng xương. Mỗi phần có một cái thẻ xăm gắn trên đó và các chủ hộ cùng bốc thăm, ai trúng thẻ nào thì nhận phần đó để khỏi thắc mắc thiệt hơn... Đó là phần thịt cho cả cái Tết của một gia đình nông dân.

Có thể nói đó là thời kỳ đói vĩ đại nhưng vẫn có những cái hay. Bởi giữa trùng trùng khó khăn vậy, nhưng chỉ cần bước vào chợ thị trấn, chợ huyện thì cả một trời Việt Nam Cộng Hòa hiện ra trước mắt. Những gương mặt xưa, dáng điệu chầm chậm thời thế, những bà mẹ quê bán chút quà quê như trái mít, nải chuối, buồng cau hay mấy lá trầu… Nhưng lạ ở chỗ, chợ quê lúc đó mặc dù bị quản lý thị trường, thuế vụ làm việc rất căng nhưng thịt heo, thịt bò, thịt gà vẫn nhiều hà rầm (một cách bí mật). Thường là người chế độ cũ, còn ít vàng, ít của thì lén lút bán để đi chợ. Ngoại tôi cũng không ngoại lệ, thỉnh thoảng, bà dắt tôi ra chợ lén bán chỉ vàng để mua đôi dép, sắm nửa ký thịt heo. Nhưng mua và bán phải cho nhanh tay, nếu không thì thuế vụ thấy được là tịch thu, mất trắng. Không ít người vừa bán xong chỉ vàng, ra mua ký thịt heo là bị tịch thu cả tiền và thịt, người bán cũng bị tịch thu, khóc như mưa.

Thời đó, ai muốn bán con heo cũng phải chờ đợt nhà nước thu mua, đến đợt thì cả hợp tác xã chở heo ra chất la liệt ngoài ngã ba chờ cân xuất khẩu (sang Liên Xô) hoặc mang về trung ương. Có khi chờ cả ngày mà không được cân, lại phải chở về thả lại vào chuồng, heo sút ký, có khi chết, mất trắng. Ai may mắn được cân thì về lại tiếp tục chờ ngày hợp tác xã cấp tiền. Có nhà thấy mệt với vụ cân heo nên nuôi lén, nghĩa là mua heo bên ngoài, không mua heo của trại chăn nuôi (nhà nước) để khỏi bị hợp tác xã biết, quản lý. Nuôi phải luôn cho heo ăn no để nó khỏi kêu mà hàng xóm biết nhà có heo, nếu nhỡ nó đói kêu thì phải sang năn nỉ nhà hàng xóm giữ bí mật chuyện này. Khi bán thì gọi bảy đáp, chừng hai giờ sáng, các bảy đáp mới vào nhà, bắt heo bỏ vào giỏ và bỏ một nắm tro vào miệng cho nó khỏi kêu…
Sau 1986, thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những khu chợ quê dần cơi nới, mở rộng và chạy đua theo chuẩn chợ huyện, chợ phố, đô thị mới… Gần như bóng dáng quê kiểng bị mất dần, nếu không muốn nói là còn thoi thóp. Việc tìm ra một khu chợ quê đúng nghĩa chợ quê còn khó hơn tìm một Việt kiều trẻ biết hát dân ca. Những dấu cũ, người xưa mất dần theo thời gian, tuổi tác và cơn gió lốc của thời đại. Nhưng, đâu đó, ở xứ Duy Xuyên, nơi thành Himshapura, Trà Kiệu, Kinh Thành Sư Tử, Chăm Pa một thuở, bên cạnh đoạn nối giữa sông Thu Bồn và sông Bà Rén, gần nhà cố thi sĩ Bùi Giáng, có một khu chợ với cái tên nghe cũng rất đỗi xưa: Chợ Huyện. Ở đây, người ta bắt gặp một trời xưa cũ.
Từ chợ Huyện đến những góc ngã ba đầu làng…

Chợ lợp mái lá, mái tranh hoặc mái tôn, tùy từng gian hàng giàu hay nghèo mà chọn vật liệu để lợp. Người bán, người mua không ồn ào, cái yên tĩnh lạ lùng nhất của thời đại mà mọi chuyện đều nháo nhào… Một ít mít trộn, một ít thịt heo luộc, một ít rau tập tàng (rau lộn xộn đủ loại), một vài trái dưa leo, dưa gang, đu đủ, cam, xoài, mít, mận, phở sắn khô, bún sắn… Tất cả đều hái từ vườn nhà hoặc tự tay làm. Từ những ngôi nhà trong núi Chúa, núi Trà Kiệu hay núi Quắp mang ra bán. Không khí mua bán chầm chậm, như trôi, như kéo người ta trở về một thuở xa xưa nào đó.
Lạ ở chỗ, khi nền kinh tế thị trường bắt đầu tăng tốc theo nhịp lốc xoáy, hất văng những gì chậm chạp ra ngoài lề thì… Đâu đó, trong sâu thẳm tâm hồn con người, cái gốc quê kiểng lại quay về. Những người bà, người mẹ, người chị hái trái mướp ra ngã ba đường ngồi bán, mang nải chuối ra chợ, mang trái cóc, trái ổi, bưởi, xoài… ra cổng trường ngồi bán ngày càng đông.
Giá mua, bán thức quê cũng rẻ và dễ chịu, như lời của bà Năm Thi, ở Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam, người hay đi rảo các khu vườn quê để mua trái cây, mang ra ngã ba đầu làng ngồi bán, “Bán lãi không nhiều đâu con ơi! Nhưng chủ yếu là tìm lại cái thời mình thấy vui, nói chung là giải khuây!”
“Mọi người ở đây đều bán giải khuây thôi hay sao bà?”'


Nụ cười chợ quê khi ế hàng, có ai đó kể dăm ba câu chuyện cười. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Không đâu. Bán phải có tiền lãi để mà sống chứ. Nhưng mà giải khuây là thay vì mình ra thành phố nấu ăn thuê, hay đi ở đợ, hoặc đi làm một việc phụ nào đó như rửa chén bát, lau nhà… Thì mình đi buôn trái cây, vẫn có cái để sống mà lại thoải mái, ít tiền một chút cũng được.”
“Mít, ổi phải trèo hoặc hái bằng lưới, bà làm sao để hái?”
“Mình tự trèo, cây nào cao quá thì nhờ mấy đứa trẻ nó trèo giùm.”
“Mình bán vậy đủ sống không bà ơi? Mỗi ngày bà ăn được mấy chén cơm? Bà thích ăn món gì?”
“Ồ, già rồi mà con, cơm ngày ba chén, bữa nào mệt thì buổi sáng nấu cháo đậu xanh, ăn với đường, nghỉ ngơi một chút lại đi rảo quanh vườn tìm cái rau, cái trái. Nếu không có chi thì đi rảo trong xóm rồi mình mua. Mấy đứa trẻ bây giờ khá giả, giàu có, tụi nó lại thích sống cảnh quê nên trồng cây ăn trái nhiều mà ít hái, mình tiếc, chạy tới năn nỉ mua rồi năn nỉ trả tiền. Chớ không là nó cho không, mà bà không muốn nó thương hại bà như vậy. Mà tụi trẻ nó tâm lý lắm nghe, nhiều khi mua có mớ ổi, bà hỏi bao nhiêu, nó hét một triệu, nghe xong bà muốn đứng tim thì nó cười bảo bà đừng có đứng tim, một triệu tiền Vê Nê chi đó chỉ bằng mấy ngàn đồng tiền Việt Nam thôi. Hú hồn! Đời vậy thấy cũng vui!” (Cười).
“Có khi nào bà gặp những người trẻ làm bà không vui không?”


Những góc chợ quê với cái trứng gà, bó rau cùng hình ảnh mẹ già không khí bắp gặp ở Trung phần Việt Nam. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Có chớ con! Nhưng thôi, mình già rồi, phải biết chọn cái vui mà giữ, cái buồn thì cho nó trôi đi cho nó nhẹ lòng. Mình thấy vui vì mình bán được cái trái cây trong vườn quê cho con nít nó ăn, đỡ nguy hiểm hơn trái cây Trung Quốc, ai biết họ bơm thứ chi trong đó!”

“Bà cho con hỏi thiệt tình, mỗi ngày bà kiếm được bao nhiêu tiền lãi?”
“Tùy con ơi, bữa nào bán được nhiều thì kiếm cả trăm ngàn đồng đó. Vì họ mua số nhiều. Còn bán cho mấy đứa nhỏ thôi thì kiếm chừng hai mươi ngàn đồng lãi, số còn lại thì cho hoặc để dành bữa khác bán. Nhưng đa số là cho, nhưng không lỗ vì mình mua cũng rẻ, như trái cây loại chưa chín thì để qua bữa khác bán chứ trái chín thì nhờ tụi nhỏ nó ăn. Mà vui. Đời có chi đâu con, vui thôi!”
Nói chuyện với cụ Năm Thi, làm tôi nhớ đến một bà cụ khác ở Hà Tiên đi buôn lá chuối. Mỗi ngày, cụ đạp xe từ thị xã (bây giờ là thành phố) Hà Tiên ra Mũi Con Cọp, đi miết về hướng Long Xuyên, không chừng cả vài chục cây số để mua lá chuối chở về thành phố bán. Một ngày kiếm từ 120 ngàn đồng ($5) đến 200 ngàn đồng ($8) để hai vợ chồng già sống qua ngày. Không con cái, không có bảo hiểm y tế vì chưa tới tuổi được nhà nước cấp tiêu chuẩn, chồng đau ốm. Nhưng bà luôn chọn một thái độ sống nhẹ nhàng, vui vẻ, không than vãn…

Và bà Năm Thi cũng làm tôi nhớ đến những người bà, người mẹ HMong ở chợ Bắc Hà, Lào Cai, ở chợ đá Lục Yên, Yên Bái, chợ Cầu Mống, chợ Nồi Rang, Quảng Nam và biết bao nhiêu ngôi chợ trên đất nước này, họ đang trở lại, những người mẹ, người bà của một thuở đi bộ hàng chục cây số ra chợ, hiền hòa, nhân hậu... Họ đã mang hơi thở chậm, trầm của thời đại mình mà hòa cùng cuộc sống, làm cho đời sống bớt dội sóng, bớt quay cuồng…

Tôi gọi họ là những con ốc buồn, bò chậm, thi thoảng dừng lại nhìn quanh quất cuộc đời rồi lại bò. Họ đã chọn cho mình một góc đời nho nhỏ, giữa một góc thị trấn nho nhỏ, trong một góc chợ nho nhỏ và mỗi ngày, cuộc sinh tồn tái thiết bằng một chút tiền cũng nho nhỏ, khiêm nhu. Nhưng, dường như cuộc đời này sẽ chẳng còn thi vị, cuộc sống này sẽ khốc liệt biết nhường nào nếu một ngày nào đó vắng họ. Những con ốc buồn của tôi!



Một gian hàng ở chợ Huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Dường như chỉ có ở chợ quê, người ta mới có thể bắt gặp hình ảnh cái mũng làm bằng tre dùng để đựng thức bán. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Ốc hút bán ở ven đường chợ quê, cho những bà nội trợ mua vội về nhà măm măm. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Phở sắn ở chợ quê. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Một góc chợ huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Củ nghệ, củ nén… gia vị thường dùng trong bữa cơm người Việt. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Phụ nữ quê luộc trái bắp nhà đi bán. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Ốc hút bán ở ven đường chợ quê, cho những bà nội trợ mua vội về nhà măm măm. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Người già với hàng cau trầu, kiếm vài đồng cũng để cau trầu qua ngày. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Từ khóa tìm kiếm:
Thức quê giữa chợ đời
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp