Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông
.jpg)
Một cặp tò vò (Osmia rufa) - ảnh tham khảo: André Karwath/Wiki.
Các cụ ta xưa thường nói: “Tò vò mà nuôi con nhện, đến khi chúng lớn chúng quyện nhau đi” là có ý chê bai tò vò, sao mà ngu xuẩn đến thế, nuôi con gì chẳng nuôi lại nuôi nhện, một giống ác độc không tình không nghĩa, có gắng công nuôi chúng thì khi chúng lớn chúng cũng bỏ mình mà đi thôi, nào có biết ơn nghĩa là gì.
Nói như thế có thể vì theo nhận xét của các cụ khi đập một tổ tò vò ra, bao giờ các cụ cũng thấy một con nhện to lớn, béo mập nằm ụ một đống ở đáy tổ. Các cụ cho rằng, thừa dịp tò vò mẹ bay đi kiếm ăn, nhện đã chui nấp trong tổ để lén ăn chặn những thức ăn mà tò vò mẹ tha về nuôi con nó. Nhưng theo sự nghiên cứu kỹ lưỡng, khoa học ngày nay đã chứng minh, lý luận của các cụ ta xưa đã sai, sự thực tò vò không ngu đâu mà trái lại chính chúng đã bắt con nhện sống lôi vào hang để dành đó cho con nó khi mới nở từ trứng ra đã có đồ ăn để ăn. Nó còn thông minh tới độ biết dự trù cả việc trước việc sau. Giả dụ như biết mình sắp sinh và sinh bao nhiêu trứng, nó cần cù xây dựng tổ. Loại làm tổ dưới đất thì lo đào đất, bao nhiêu trứng thì bao nhiêu ngách. Lỗ làm cửa ra vào thì nhỏ nhưng ngách làm căn phòng thì trong rộng phềnh ra cho con nó sau này sống được thoải mái. Loại làm tổ bằng bột giấy thì lo đi gặm những vỏ cây có sợi rồi nhả nước miếng ve với đất thành một thứ bột nhão, tha về trét tổ ở trên cành cây hay vách nhà, cột kèo dưới mái. Nó xây thành những chiếc ống nhỏ hình tò vò nằm sát nhau, bao nhiêu trứng thì bao nhiêu ống. Xây cất tổ xong chúng mới đi săn mồi để có lương thực dự trữ cho các con chúng sau này. Được biết, những ấu trùng tùy từng loại tò vò lại ăn một số côn trùng khác nhau như có loại chỉ ăn ve sầu, có loại ăn nhện hay ăn một thứ sâu nào đó hoặc một côn trùng nào, v.v.. Việc này chỉ có tò vò mẹ được biết và nó chỉ chuyên bắt thứ đó mà thôi. Có một nhà khoa học thử thí nghiệm khi con mẹ lo xong mọi nhiệm vụ, đóng nắp tổ lại rồi bỏ đi, ông ta đã mở tổ ra thay con mồi bằng thứ côn trùng khác rồi đóng nắp tổ lại tử tế. Nhưng sau này khi mở tổ ra tìm lại thì ông thấy ấu trùng đã chết queo vì đói, chứ nó nhất định không ăn thứ lạ.
Rồi nữa, sự đòi hỏi của các ấu trùng còn khó khăn nhiều nữa, là chúng chỉ ăn thức ăn còn tươi tức còn sống, chứ không ăn những côn trùng đã chết hoặc bị khô queo. Tuy nhiên, tò vò mẹ vẫn thỏa mãn được điều kiện đó. Khi bắt mồi, nó làm sao con mồi đó vẫn còn sống. Trường hợp này thật khó khăn khi mồi đó là con nhện, hầu hết đều lớn con hơn tò vò mẹ và nó cũng có nọc độc chẳng thua kém tò vò. Nhưng với nhiều khéo léo và bay nhảy nhanh, bao giờ tò vò cũng thắng. Cắn được cổ địch thủ, nó dùng ngòi chích ở đuôi, chích vào ngay trung tâm thần kinh của con mồi, thế là con vật đó xụi lơ, còn sống nhưng tê liệt cả toàn thân, không còn cử động được gì cả. Thế là tò vò mẹ cứ việc từ từ lôi về tổ.
Tổ có bao nhiêu căn phòng, nó phải bắt ngần nấy con mồi và đặt cẩn thận dưới đáy phòng. Trên mỗi thân con mồi nó đẻ một cái trứng. Xong đâu đấy, thăm ngắm cẩn thận một lần chót, nó chui ra khỏi tổ rồi tha đất làm bột giấy trét thật kín tổ lại. Rồi bấy giờ thật thanh thản, không còn một chuyện gì lo lắng nữa, nó tung cánh bay lên bầu trời bát ngát để tìm lại một duyên mới, một cuộc tình cuối cùng của đời nó vì nó chỉ sống được một năm. Còn những con mồi nằm lại trong tổ, tuy to xác đấy nhưng giờ đây tê liệt, bất động. Chúng nhìn ngắm chiếc tổ bé xíu, nếu như bình thường thì chỉ một sức vùng phá nho nhỏ cũng đủ đập nát để thoát thân. Nhưng nay, ôi thất vọng! Chỉ mấy ngày sau, trứng tò vò nở ra, nó sẽ đục khoét từng mảnh thịt tươi để lớn dần lên thành ấu trùng và rồi con mồi sẽ chết vì đã bị ăn hết cả tim, phổi, ruột, gan, tay chân, mồm, mắt.
Mồi là loại ve sầu lớn
Tò vò có tất cả 600 loại, có loại thật nhỏ chỉ bằng 1/16 của một inch, tức chỉ lớn hơn con muỗi mắt một chút nhưng cũng có loại thật to, to như con ong vò vẽ, có chiều dài gần 2 inch. Chính loại to lớn nhất này hồi còn ấu trùng lại chỉ thích ăn thịt ve sầu, con vật to hơn giống nó nhiều. Biết tính con như vậy nên tò vò mẹ bỏ rất nhiều cố gắng để săn đuổi ve sầu cho kỳ được và luôn luôn tìm về những miền có nhiều ve sầu để sinh sống, tuy rằng chính nó, nó không bao giờ ăn thịt ve sầu cả.
Thật vậy từ khi lột xác thành tò vò, tò vò chỉ ăn lá cây, hoa quả mà không bao giờ ăn thịt. Tuy vậy, người ta vẫn đặt tên cho nó là loại “tò vò giết ve sầu” (cicada killer). Ở Việt Nam ta có rất nhiều giống tò vò này. Thường vào những mùa hè ta thường thấy chúng bay nhan nhản trên bầu trời hoặc chúng xoãi cánh đuổi theo một con ve sầu bay chậm chạp phía trước mặt hoặc bay đi tìm những nơi có tiếng ve đang kêu ra rả gọi hè, không phải để chiêm ngưỡng tiếng kêu buồn bã đó mà trái lại muốn nó ngừng tắt để trở thành lặng câm làm mồi dự trữ lương thực cho các con nó. Tò vò bắt ve sầu không khó, nó chỉ nhắm ngay cổ con ve mà sà xuống ngoạm chặt rồi dùng đuôi chích nọc độc vào người ve. Cả hai con đều lăn xuống đất và bây giờ con ve đã bị tê liệt, nằm đó không thể động đậy. Bây giờ mới đến công tác thật khó khăn của tò vò là làm thế nào để có thể bê con ve về tổ. Công tác này đòi hỏi nhiều sự nhẫn nại của tò vò, ngậm bay lên thì con ve quá nặng nó không thực hiện nổi. Do đó, nó phải ngắm hướng cho thật đúng rồi vừa bay vừa kéo lết qua bao nhiêu trở ngại. Tuy nhiên sau vài ba ngày khó nhọc, nó cũng hoàn thành được công tác. Chăm lo cho con xong, nó trở lại cuộc sống bình thường nghĩa là cũng đi hút nhụy hoa và món ăn thích nhất của nó là bay tìm một vài loại cây có nhựa tiết ra ngoài vỏ, nó điều hợp thế nào mà thành một loại rượu như bia và cô nàng từ từ hút lấy với vẻ vô cùng thích thú.
Loại tò vò nhỏ xíu sống trong quả sung, quả vả
Trong thiên nhiên có nhiều sự kiện thật lạ lùng, ngoài thú vật nhiều thực vật cũng gây cho ta lắm sự ngạc nhiên. Như ta thấy, cây đu đủ cũng có cây đu đủ cái, cây đu đủ đực. Riêng một cây đứng chơ vơ, đơn độc thì không bao giờ có trái. Cây sung, cây vả cũng như vả Cali (Calimirna) là loại cây chia làm hai giống riêng biệt đực và cái. Tuy nhiên, chúng còn đặc biệt hơn nữa là loại cây không bao giờ có hoa. Quả sung thì nhạt và hơi chát nhưng vả thì ngọt hơn và chứa đựng nhiều calcium và chất sắt. Ngược lại dòng thời gian từ thời tiền sử, quả vả được xem như một thứ lương thực khá quý. Có thời chỉ có các bậc vua chúa hay các nhà quyền quý, giàu sang mới được dùng nó. Nhưng sau nó lại quá xuống dốc đến nỗi thứ lương thực này chỉ dùng để cho các dân nô lệ ăn mà thôi. Sự thực ngày nay thứ quả này vẫn còn dùng để ăn sống, đóng hộp hoặc ăn khô. Nước cốt của nó dùng để làm rượu hoặc chế biến thành thuốc nhuộm. Trong khi đó, lá vả dùng để đánh bóng các vật bằng ngà voi và da cây có nhiều sợi dùng làm dây thừng. Trái vả cũng thường được đề cập tới từ thế kỷ thứ 13 trước Công Nguyên bởi các văn thi sĩ Hy Lạp như Homer, Herodotus và cả ngay trong kinh thánh, xuất xứ của cây này là Á Châu và vùng biển ven Đại Tây Dương. Hoa Kỳ nhập cảng cây này vào năm 1880 tại vùng Smyrna thuộc Thổ Nhĩ Kỳ đem trồng rất nhiều tại California nên người ta đặt tên cho nó là trái vả Calimyrna.
Cây vả không bao giờ có hoa nhưng trái thì mọc ra rất nhiều, trổ ra từ các cành. Trái vả hình quả lê dầy thịt nhưng trong có lỗ hỏng lớn, trên đó tua tủa ra những đốm nho nho. Sự thật, những đốm nhỏ đó mới là hoa, có hàng trăm hoa đã mọc trong lòng trái. Cây cái và đực đều có trái nhưng nếu nhụy hoa trong trái cây đực mà không làm sao qua được bên hoa cái thì sẽ không bao giờ có hột, không chín và ăn nhạt chát rất khó nuốt. Do vậy, trong cả 10 năm đầu nhập cảng về, người Cali thấy không đạt được kết quả, đã phải tự mình làm ông Thần Tình Ái se duyên, lấy que nhỏ khơi một chút nhụy từ trái cây hoa đực rồi nhét qua chiếc lỗ thông nho nhỏ nơi trái hoa cái thì quả đó mới chín và ngon ngọt. Mãi sau chính quyền mới phái người qua lại Thổ Nhĩ Kỳ và mới khám phá ra rằng có một loại tò vò nhỏ xíu đã thay Ông Tơ Bà Nguyệt xe duyên giữa hai cây vả đực và cái, cũng vì vậy mà cây vả qua bao ngàn ngàn năm vẫn sinh sản tốt đẹp và sẽ luôn luôn tươi tốt cho đến nhiều ngàn năm sau và mãi mãi.
Loại tò vò này rất nhỏ, chỉ nhỉn hơn con muỗi mắt một chút nhưng nếu nhìn qua kính hiển vi nó y hệt loại tò vò lớn, không mảy may khác biệt. Nở ra từ cái trứng trong quả vả đực, nó trưởng thành rất nhanh ngay trong ngày hôm đó và đực cái đi tìm nhau để ái ân. Sau đó, chỉ riêng con cái tìm lỗ nhỏ ở đáy trái vả để chui ra. Nó cất cánh bay đi tìm cây cái và nếu tìm thấy nó sẽ bò qua lỗ nhỏ chui vào lòng trái vả cái. Mục đích của nó là chỉ tìm đến nơi này thôi, còn bay lạc qua một cây đực thì nó đành chịu chết chứ nhất định không chui vào quả vả đực. Một điều dễ hiểu là khi từ trong quả vả đực bay ra, vô tình trên đầu, râu, cánh và chân nó đều dính đầy nhụy hoa đực. Chính cái mùi đó làm chúng nhận được và phân biệt trái vả đực và cái. Trong khi con cái bay đi thì con đực ở lại, chỉ lẩn quẩn trong lòng trái vả đó và sẽ chết ở đó. Nó không bao giờ bỏ nơi chốn sinh ra nó. Hiện nay tại San Joaquin thuộc tiểu bang California người ta còn trồng rất nhiều cây vả này.
Tò vò bắt nhện to
Tò vò chim ưng bắt nhện Tarantula là loại côn trùng vừa thông minh lại vừa có lòng yêu con nhất. Không hiểu sao ta thường thấy có giống tò vò không sợ gì nguy hiểm cho tính mạng mình mà cứ xông tới chiến đấu để bắt cho được giống nhện Tarantula vì biết các con nó chỉ thích ăn thịt loài nhện khổng lồ và độc hại đó.
Giống nhện này có rất nhiều ở Hoa Kỳ cũng như ở Trung và Nam Mỹ. Nó là loại nhện lớn nhất thế giới, lông xù xì trông rất ghê sợ. Dân Châu Mỹ rất sợ hãi giống nhện này vì khi bị nó cắn, người cứ phải nhảy lên như ma làm và chạy như ma đuổi trong khi mồm thường kêu rú như con sói. Con người bị nhện cắn, tuy chữa được nhưng phải qua nhiều ngày mới khỏi. Do vậy nhiều người mê tín đã gọi bệnh này là bệnh “quỷ ám” hay “Tarantism”.
Còn đối với con vật bé nhỏ như tò vò, bị cắn phải coi như là hết sống. Chắc tò vò cũng biết vậy nhưng vì yêu con nhỏ mà nó bất chấp tất cả. Hình như nó đã nghiên cứu rất kỹ nên hiểu tất cả tính tình và cách sống của nhện Tarantula. Tổ con này được đào sâu xuống đất khoảng một bộ (foot) và rộng khoảng một inch. Chung quanh miệng tổ nó giăng kín tơ nhện vừa để dò xét xem có con vật nào tiến tới gần vừa để tránh đất đá khỏi rơi xuống tổ và đồng thời còn ngăn chặn những côn trùng nó đã bắt được khỏi leo lên chạy trốn. Từ trên miệng lỗ khoảng một inch, nó còn giăng một màng lưới kín đặc rồi nhẹ nhàng leo vào nằm im lìm chính giữa, trong khi 4 trong 8 con mắt của nó lơ láo nhìn khắp chung quanh để canh chừng. Khi thấy một con vật nào mắc bẫy hoặc bò lại gần là nó nhảy xuống ngay chộp cứng và chích nọc độc rồi mới kéo lên lưới bao màng nhện khắp chung quanh, xong mới ném xuống lỗ. Hình như biết vậy nên tò vò cũng nằm im từ cành cao và chờ đợi. Khi thuận tiện và tìm được sự sơ hở của con nhện, lập tức tò vò bay vù xuống, nhảy lên lưng nhện, quặp cổ và cong đuôi chích một mũi thuốc độc vào bụng nhện. Nó nhắm thật chính xác và một liều lượng về nọc độc cũng được tính toán kỹ lưỡng nên con nhện không chết mà chỉ tê liệt. Con nhện cứ ở tình trạng đó kéo dài cả tuần lễ mà không chết, còn tốt hơn cả tủ lạnh là một sản phẩm văn minh của con người. Vì khí hậu ngoài sa mạc thật nóng, nhện không chết nên thịt nó không bị hư thối và ấu trùng tò vò thả cửa ăn thịt tươi nguyên nên rất mau lớn.
Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.