Monday, 13/05/2019 - 12:25:12

Trăng xưa treo đỉnh núi Hồng


Đánh cá trên sông Lam mùa khô. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Bài NGUYÊN QUANG

“Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/ Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều…”
Thiết nghĩ, cuộc đời đầy máu me chữ nghĩa và một kiếp bưng bô bằng ngòi bút của mình, Tố Hữu, nếu còn một chút gì để lại, có vẻ như có hai câu thơ này. Hai câu thơ chứa nỗi lòng của một con người chứ không phải là cái máy cầm bút, nó cũng mang dự cảm về một Hà Tĩnh ngày hôm nay. Nhưng, với điều kiện ai từng đi qua Hà Tĩnh, từng ngắm trăng trên đỉnh núi Hồng mà miên man “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán/ Hồng sơn sơn nguyệt nhứt luân minh” (Bùi Giáng), tạm dịch “Hồng Lĩnh không còn gia đình, anh em li tán/ Trăng trên đỉnh núi Hồng vẫn cứ sáng mãi một màu xưa”… mới cảm hết cái đẹp của sông Lam, núi Hồng, và kiếp người trôi lênh đênh theo dòng thế cuộc!
 

Nước sông ngày càng khô cạn do đầu nguồn có thủy điện. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Đời sống thăng trầm

Nói nghe có vẻ bi kịch hóa câu chuyện nhưng thực ra, cuộc sống còn đẹp và đáng sợ hơn những gì tưởng tượng. Đẹp vì cái nghèo thê thiết ở đây. Theo xe qua một số huyện miền núi Thanh Hóa còn đói khổ, mất thêm vài tiếng đồng hồ qua Nghệ An, vào đến địa phận Hà Tĩnh, chỉ cần đi qua một chiếc cầu nhỏ, sẽ bắt gặp cung đường chạy ven núi, núi ở phía đông, sông ở phía tây, núi và sông chạy song song với con đường, sông nhìn rộng mênh mông nhưng mùa khô thì trơ đáy, hỏi ra mới biết đây là sông Lam, núi Hồng, quê hương của Tiên Điền Nguyễn Du.

“Cảnh sống cứ như tiên cảnh như vậy thì ông không thành nhà thơ mới là chuyện lạ, mà đâu riêng gì ông, nghe đâu Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan lúc trẻ cũng sống ở đây. Bài qua đèo Ngang là con đèo ở Hà Tĩnh đây nè!” người tài xế grab tên Trung chia sẻ.
“Ở đây hình như còn xe ngựa đúng không anh Trung?”
 

Nhà bếp của một gia đình lớn, Xuân Sơn, Kỳ Anh. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


“Đúng rồi, xe ngựa cũng thuộc huyện Nghi Xuân này đây, còn lại chừng vài chục chiếc. Có thể nói huyện Nghi Xuân còn rất nghèo, nhưng được cái yên bình hơn so với Kỳ Anh. Huyện này không tăng không giảm so với các huyện ở Hà Tĩnh.”

“Nghĩa là sao anh, không tăng không giảm í?”
“Nghi Xuân thời phong kiến có nhiều người làm quan, đỗ đạt, kinh tế khá giả, đến thời Pháp thuộc cũng có nhiều người làm thông ngôn và làm quan, cũng khá giả, ngoài ra thì có nghề chạy xe ngựa, nghề đánh bắt cá trên sông La và nghề buôn bán, làm ruộng. Cuộc sống ở đây cứ trầm trầm vậy, giàu chất văn nghệ hơn các huyện khác. Sau này khi kinh tế phát triển, Nghi Xuân vẫn trầm trầm vậy chứ không phát triển ồ ạt như các huyện khác.”
 

Cái cò lặn lội bờ ao/ Lội phải thời nào lộn cổ vào chợ Kỳ Lạc, Kỳ Anh. Mặc dù sống trên núi nhưng lại hay bị lũ lụt, mùa màng thất bát. Một số phụ nữ chạy xuống thị trấn kiếm việc, nhiều cô trẻ trung thì chuyển dần từ rửa bát sang hớt tóc thanh nữ, rồi làm cave… Có trăm đường để kiếm cơm nhưng chẳng có đường nào bình yên. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Khi Trung Quốc vào Hà Tĩnh đầu tư, huyện này có phát triển gì không?”
“May mắn là huyện Nghi Xuân không có quĩ đất rộng ven biển như Kỳ Anh nên không bị biến động. Vẫn cứ sống trầm trầm vậy, đương nhiên là bây giờ cá trên sông Lam trở nên hiếm, nước cũng cạn nguồn, mùa hè thấy đáy sông, không biết con sông Lam này còn tồn tại bao lâu nữa. Còn núi Hồng thì cũng có vài quan chức ngắm nghía, xây nhà ven núi rồi, lô đề ở đây phát triển mạnh, nhất là cho vay nặng lãi. Các ông chủ vay ở đây ra Kỳ Anh hoạt động rồi quay về. Nhà của họ ở Nghi Xuân như những đại bản doanh.”

“Theo anh thấy thì Kỳ Anh phát triển như thế nào so với trước đây mười năm?”
“Chút nữa tôi sẽ giới thiệu anh với một cha đạo, ông khá thân với tôi. Nhưng trước khi đến chỗ giáo xứ của ông thì tôi sẽ đưa anh đến Kỳ Anh, đến giáo xứ Đông Yên trước đã.”
Xe chạy một đoạn xa chừng 100 km, đến ngã ba Đông Yên, rẽ về hướng biển, một cánh đồng bằng phẵng, lúa xanh mượt nằm sát bờ biển và những quả đồi. Cảnh đẹp hiếm thấy bởi ít khi nào gần biển có thể có đồng lúa giống như Đông Yên. Đi sâu vào trong thôn, băng qua cánh đồng và những hàng dương, gặp giáo xứ Đông Yên nằm lặng lẽ bên bờ biển, dưới một ngọn đồi thấp, trên đỉnh đồi là tượng thánh Phê Rô đứng nhìn ra biển.

Lùi về thời đồ đá

Tiếp chuyện chúng tôi là một Ma Soeur tên Mai. Bà cho biết ở đây không còn nhiều giáo dân, phần đông đã di dời theo lệnh cưỡng chế của nhà nước để lên khu tái định cư. Đông Yên còn lại chừng 100 gia đình, họ và cha xứ quyết ở lại giữ đất, giữ nhà kể từ sau biến cố năm 2016 chính quyền mang công an và cảnh sát đến đập phá nhà thờ, bắt người đưa đi.

“Những người còn ở lại là những người yêu Chúa và yêu công lý. Thực ra ở đây chẳng ai muốn chống đối với chính quyền làm gì nếu như chính quyền xử lý thỏa đáng. Bà con ở đây đều sống ít nhất là ba đời trên mảnh đất, có giấy tờ hẳn hoi và mọi thứ thuế đều đóng đầy đủ. Nhưng khi nhà nước nghe theo người Trung Quốc, xua bà con đi với giá đền bù rẻ mạt, dùng bạo lực thì câu chuyện trở nên xấu đi!” Sơ Mai chia sẻ.

“Hiện nay đời sống của bà con giáo dân ra sao vậy thưa sơ?”
“Dạ, đời sống có thể nói là rất khó khăn. Kể từ ngày biển bị nhiễm độc thì bà con giáo dân không ai ra biển, cho thuyền đắp khăn tang suốt mấy năm nay. Những người đánh cá theo khuyến dụ của nhà nước là các lương dân (chỉ người không có tôn giáo) chứ bà con giáo dân tuyệt đối không đánh bắt, không bán cái nguy hiểm cho người khác”.

“Vậy mình lấy gì để sống thưa sơ?”
“Thỉnh thoảng cũng có gia đình ra khơi, đi ra tít tận ngoài hòn Sư Tử để đánh về một ít mà dùng chứ không bán, biết là độc nhưng cũng phải ăn để sống. Hiện tại, bệnh tật cũng nhiều rồi. Phụ nữ thì bị thai non, trước đây không có, giờ thì nhiều. Nhưng bà con quyết bám trụ, cho dù thiếu trường học, thiếu điện, thiếu nước, thiếu thiết bị y tế… Sống cứ như bộ lạc nhưng đành chấp nhận!”
“Sơ mới nói về bệnh tật, cụ thể là bệnh tật như thế nào thưa sơ?”

“Ở đây trước đây không ai bị chứng nhức trong xương, bây giờ người có tuổi một chút thì nhức khắp mình mẩy, còn các cô gái trẻ có chồng nhưng không có con được. Có đến vài chục trường hợp bị trụy thai mà không rõ nguyên nhân. Nhưng đáng sợ hơn vẫn không phải là như vậy, đời sống đảo lộn lên hết chú à! Chỗ này cứ như thời đồ đá, nhưng được cái là con người còn tin nhau, nương tựa nhau để mà sống.”
“Có phải do vậy mà sơ chấp nhận mọi khốn khó, tình nguyện ở lại đây với bà con không vậy sơ?”
“Dạ, chú nói cũng đúng, ở đây tụi con rất cực khổ, sơ có một tiệm thuốc tây để chữa bệnh cho bà con, nguồn thuốc sơ đi xin bên ngoài, sơ cũng là bác sĩ của bà con, hầu hết điều trị bệnh cho bà con ở đây là sơ. Chỉ những ca cần cấp cứu mới đưa đi viện thôi! Bà con khổ, mình khổ, nhưng yêu Chúa, yêu sự thật, vậy là đủ rồi. Còn chuyện đời sống Kỳ Anh ra sao, có lẽ chú hỏi cha Hải, cha sẽ đưa chú đi thăm một số gia đình để hiểu thêm.”
 

 Một khu nhà trọ của người Trung Quốc ở Vĩnh Tân, Bình Thuận, nó được xem là cái ổ dịch bỏ chồng nơi đây. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Cha Cao Đình Hải, cũng là người bạn chí thân của gia đình chúng tôi trong những chuyến đi chia sẻ với bà con vùng lũ. Nghe sơ Mai nhắn tin chúng tôi có mặt, cha Hải chạy xe đến Đông Yên đón chúng tôi về Xuân Sơn ăn tối, nghỉ ngơi. Cha khoe mới đào được hai cái giếng cho dân làng và mới được người bạn gửi tặng cho chai rượu sâm, khui ra mời chúng tôi luôn trong bữa cơm tối.

“Chỉ trong vòng chưa đầy ba năm mà ở đây thay đổi một cách đáng sợ. Đời sống ai nhiều tiền thì phình to ra một cách bất minh, tệ nạn xã hội tăng đột biến và tâm hồn con người trở nên đen tối. Đáng sợ là con số này đông lắm chứ không phải ít!” Cha Hải chia sẻ với chúng tôi.

“Cha nói tâm hồn con người trở nên đen tối nghĩa là sao, họ ham tiền hay là gì khác thưa cha?”
“Ham tiền là chắc chắn rồi, nhưng ngay cả một số người ở một số giáo họ tại Xuân Sơn này cũng bị, nghĩa là mình ở trên rừng, người Trung Quốc ở dưới biển, cách nhau mấy cả chục cây số mà vẫn bị chi phối. Tình trạng bỏ chồng theo Trung Quốc vì tiền không những xảy ra với người không tôn giáo mà xảy ra với cả một số con chiên. Ở đây có gia đình đã được năm đứa con. Vợ chồng cùng nhau đánh cá ở sông để nuôi con, nhìn cũng hạnh phúc lắm. Vậy mà đùng cái cô vợ bỏ theo người Trung Quốc, Tết còn dắt về nhà, hú hí như vợ chồng trước mặt chồng con. Anh chồng bực tức đuổi đi thì gã trai Trung Quốc tấn công anh chồng bị hỏng con mắt trái, phải nằm viện… Chuyện đến nước này thì chẳng còn gì là tình người nữa. Buồn thật!”
 

Một khu massage phục vụ cho người Trung Quốc ở Cà Ná, Bình Thuận, nó nằm ngay bên quốc lộ 1A. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Cơm nước xong, chúng tôi nghỉ ngơi, sáng hôm sau cha Hải dắt chúng tôi đi thăm các gia đình mà cha vừa kể. Cuộc sống ở đây chủ yếu nuôi ong lấy mật, làm rừng và làm ruộng. Mỗi mùa lụt đến thì mọi thứ tan nát, phải làm lại từ đầu. Mặc dù sống trên núi nhưng lại hay bị lũ lụt, mùa màng thất bát.

Một số phụ nữ chạy xuống thị trấn kiếm việc, nhiều cô trẻ trung thì chuyển dần từ rửa bát sang hớt tóc thanh nữ, rồi làm cave… Có trăm đường để kiếm cơm nhưng chẳng có đường nào bình yên.
 

Cây tràm, một loại gỗ tạp đóng vai trò kinh tế mũi nhọn ở Xuân Sơn, Kỳ Anh. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

Vào thăm người chồng bị gã Trung Quốc đánh trọng thương ngay tại gia đình trong ngày Tết. Chúng tôi không muốn nhắc đến chuyện đau lòng của anh, nhưng cha Hải lại nói thẳng, “Sức khỏe của anh dạo này sao rồi?”


Thuyền nằm đắp khăn tang hoặc phơi lưng đợi ngày ra khơi. “Đời sống có thể nói là rất khó khăn. Kể từ ngày biển bị nhiễm độc thì bà con giáo dân không ai ra biển, cho thuyền đắp khăn tang suốt mấy năm nay. Những người đánh cá theo khuyến dụ của nhà nước là các lương dân (người không có tôn giáo) chứ bà con giáo dân tuyệt đối không đánh bắt, không bán cái nguy hiểm cho người khác,” Sơ Mai chia sẻ. (Nguyên Quang/Viễn Đông)


Xóm làng Xuân Sơn chẳng còn yên bình. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Dạ thưa cha, con cũng khỏe tạm. Vừa rồi con vợ con nó có về nữa, nó đền cho con năm chục triệu đồng rồi nó đi rồi!” anh nói với vẻ mặt mãn nguyện.
 

Đường làng quanh co, chứa đầy oan khiên gai độc thời kim tiền bất chấp. (Nguyên Quang/Viễn Đông)

“Thế anh có nhận không?”
“Dạ con nhận chứ, nó đền tiền thuốc men cho con mà! Con nhận, mua cái ti vi màn hình phẳng cho mấy đứa nhỏ nó coi,với mua mấy tay lưới để đánh bắt.”
 

Những ngôi nhà quen thuộc ở vùng núi Hà Tĩnh, cách Vũng Áng chưa đầy 10 km đường chim bay. (Nguyên Quang/Viễn Đông

Cha Hải gật đầu, im lặng, ánh mắt của cha xa xăm, có lẽ cha chẳng còn biết nói gì thêm. Chúng tôi cũng vậy, dường như chỉ biết thở dài, thở dài ngay cả trên sự mãn nguyện của đồng loại. Chẳng biết nói sao. Mọi sự cứ tù mù, đen đủi như màu khói than xỉ Formosa thải vào bầu trời trong xanh Hà Tĩnh thuở nào. Bây giờ, bầu trời đã nhuốm màu than xỉ!
Từ khóa tìm kiếm:
Trăng xưa treo đỉnh núi Hồng
Viết bình luận đầu tiên
Advertising
Bình luận trên Facebook

Bình luận trực tiếp