Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông
Di tích cổ Mohenjo Dara tại Ấn Độ, người ta đào lên và khám phá được nền văn minh từ
5.000 năm trước, nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại - ảnh tham khảo: Grjatoi/Wiki.
Ấn Độ nằm về phía Nam Á Châu là một bán đảo rộng mênh mông, diện tích 1.229.737 dặm vuông, tức rộng gấp trên 20 lần Anh Quốc. Gần 2/3 đất đai bao bọc bởi biển cả, Ấn Độ có hình dáng một tam giác mà đáy nằm về phía Bắc, chắn bởi dãy Hy Mã Lạp Sơn đồ sộ, có đỉnh cao nhất thế giới. Nơi đây, quanh năm tuyết phủ trắng xóa, với một khí hậu lạnh kinh hồn, luôn luôn tạo những luồng cuồng phong xoắn tít, làm mây trời mù mịt lúc nào cũng như giông bão. Nhưng, càng xuôi về miền Nam càng nóng bức, cho đến đỉnh đầu chấm dứt ở đảo Tích Lan thì khí hậu ngược lại đã trở thành nóng cháy, quanh năm hun đốt như trong lò lửa. Đối với Hoa Kỳ, Ấn Độ nằm chính chinh đối diện ở bên kia trái đất, vì những chuyến máy bay cất cánh từ phi trường St. Paul tiểu bang Minnesota, hay Denver tiểu bang Colorado, hoặc Omaha tiểu bang Nebraska của Hoa Kỳ, muốn bay đến một thành phố ở trung tâm Ấn Độ, thì con đường ngắn nhất là phải bay qua Bắc cực.
Nói về dân cư, Ấn Độ có dân số đứng hàng nhì trên thế giới, hiện tại đã trên 1 tỷ người, chỉ đứng sau có Trung Cộng. Ngay từ thời xa xưa, Ấn Độ đã được sự cư trú bởi nhiều giống người phức tạp cả về ngôn ngữ lẫn chủng tộc. Do vậy cho đến nay tình trạng đó vẫn là một đặc tính căn bản của dân tộc này. Trong cuộc thống kê vào năm 1991, người ta thấy Ấn độ còn có tới 4.635 sắc dân khác biệt và nói tới 1.652 thứ ngôn ngữ khác nhau, tuy rằng trong đó có 33 ngôn ngữ chỉ có khoảng 100.000 người xử dụng. Tuy nhiên để có một ý niệm khái quát, các sử gia đã chia dân Ấn ra làm ba nhóm chính, căn cứ vào ngôn ngữ và tập tục của họ. Đó là nhóm Munda, nhóm Dravida và nhóm Arya. Chúng tôi xin đề cập chi tiết về 3 nhóm trên trong loạt bài “Lịch sử về Ấn Độ” sẽ trình bày sau này.
Lịch sử nền văn minh Ấn Độ về thời cổ xưa rất mù mờ, vì hầu như không để lại một chút di tích gì. Xưa kia, người Ấn không có những văn khố để tàng trữ các tài liệu, không lập những bảng niên biểu rõ rệt cho các biến cố đã xẩy ra trên đất nước họ. Tuy các chùa chiền Ấn có giữ được một số tài liệu cổ, nhưng chỉ ghi lại những sự việc liên quan tới cuộc sinh hoạt của riêng họ, còn không đề cập gì đến những biến cố chính trị ở ngoài đời. Đồng thời, vấn đề khí hậu ẩm ướt cũng là một yếu tố để tàn phá những di tích lịch sử nếu có, không nói gì đến những cuộc tương tranh giữa người và người còn có sức tàn phá còn ghê gớm hơn rất nhiều. Do vậy cho tới đầu thế kỷ thứ 20, các sử gia Tây phương vẫn chỉ nói đến nền văn minh Sumerian, văn minh Babylone, văn minh Ai Cập và tin chắc rằng Hy Lạp đã mở màn cho nền văn minh nhân loại. Người Âu Châu còn cho rằng, thời đó dân Ấn Độ còn sống trong cảnh dã man, mọi rợ, chờ cho tới khi giống người Aryan, gốc gác ở Âu Châu, lan tràn vào Ấn, mang theo cả nền văn minh, khoa học và nghệ thuật, để truyền bá cho dân chúng của bán đảo này, giúp cho họ thoát khỏi cảnh tối tăm, ngu muội. Cho mãi tới năm 1924, một nhà khảo cổ người Anh, tên là John Marshall, hợp tác với nhiều nhà khảo cổ người Ấn, đã khai quật tại hai đô thị Harappa và Mahenjo Daro, trên bờ phía Tây sông Indusha, tìm ra được nhiều di tích của một nền văn minh, có vẻ cổ hơn tất cả nền văn minh nhân loại, mà chúng ta được biết cho đến thời bấy giờ.
Sự khám phá này đã lật đổ những quan niệm từ trước của các nhà học giả Tây phương, nói rằng nền văn minh nhân loại xuất phát từ Hy Lạp. Người ta đã tìm thấy tại Mahenjo Daro và ở Harappa, một tỉnh cách đó vài trăm cây số về hướng Bắc, di tích của bốn năm thành phố chồng chất lên nhau, có mấy trăm ngôi nhà và cửa tiệm xây cất bằng gạch thẳng tắp, những đường phố khang trang rộng rãi. Đặc biệt vấn đề vệ sinh rất được chú trọng. Nhà nào cũng có buồng tắm và hệ thống rút nước rất quy mô. Ngoài ra thành phố cũng có nhà tắm công cộng, rộng rãi, cơ ngơi.
Sau thời gian dài khảo sát, tìm tòi các nhà khảo cổ có thể kết luận rằng, người Ấn xưa ở thành phố đó còn có cả chữ viết, còn biết tính, biết cân và biết đo. Vì tìm thấy những đường mương và con lạch chạy quanh thành phố, người ta đoán rằng người Ấn thời đó đã biết dẫn thủy để tiếp tế nước cho ruộng vườn và trang trại của họ. Đồng thời vì tìm thấy những đồng tiền bằng vàng, bằng bạc, cùng những con dấu bằng ngà, các nhà bác học ngày nay đoán rằng trong số người Ấn xưa đã có những nghệ sĩ, những kỹ sư và những kiến trúc sư có thực tài. Ngoài ra, với những mảnh đồ gốm tìm thấy, hình thù tròn trịa và trơn láng, các nhà khảo cổ tin rằng, hồi đó người ta đã biết dùng bàn quay để nặn đồ.
Những khám phá trên chứng tỏ, ba bốn ngàn năm trước Tây lịch, tại hai tỉnh trên đã có một đời sống thị thành náo nhiệt, khá văn minh chẵng kém gì dân Sumerian và nếu so sánh còn thấy họ văn minh hơn cả người Babylone. Tại Âu châu, người ta hay ca ngợi sự kiến trúc của một tỉnh tên là Ur thời cổ xưa, nhưng xét ra lối kiến trúc đó còn thô sơ hơn ở Mohenjo Daro của Ấn Độ. Xét về niên kỷ, các nhà khảo cổ thấy, nền văn minh Mohenjo Daro vươn lên rực rỡ nhất, đúng vào thời kỳ vua Cheops của Ai Cập cho xây kim tự tháp vĩ đại đầu tiên. Văn minh Ấn còn tồn tại suốt 3 ngàn năm cho mãi tới thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch. Tiếc rằng nền văn minh sớm sủa đó của Ấn Độ sau này tàn rụi và mất tích, mà không ai biết được nguyên do. May sao, ngày nay ta còn tìm lại được di tích, nên mới biết đến cái nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại này.
(Còn tiếp)