Bài và ảnh: Trần Công Nhung/Viễn Đông

Ngày mùa
Từ Xuân Hòa ra làng Vạn Xuân, vẫn con đường đất năm nào, bến đò đi Mỹ Trung và chợ Vạn Xuân vẫn còn, nhưng mấy “cây đa cao ngất từng xanh” đã mất, bến đò trịt lĩn không sâu như hồi trước, đồn Vạn Xuân không còn dấu tích gì. Tôi đứng lại một lúc và lòng bồi hồi tưởng nhớ cảnh xưa. Trước năm 47 nơi này có đồn quân đội Việt Binh Đoàn, trong đồn có một anh trung sĩ người Pháp hiền lành hàng ngày mang súng Carbine đi vào làng bắn chim cu xanh mà chẳng hề hấn gì. Vạn Xuân cũng là trụ sở Tổng (huyện). Đứng nơi này nhìn một vòng qua Đại Phúc, Thù Thừ, Kim Nại, Phúc Nhĩ... về Cổ Hiền, Nguyệt Áng... lũy tre xanh như một trường thành... nay chỉ là cánh đồng trơ, chạy vào tận chân dãy Trường Sơn. Tôi đạp xe nhắm về hướng làng Kim Nại. Lấy Lèn Áng làm chuẩn, biết mình đã vào địa phận làng nhưng lòng còn nghi, vì chưa qua cầu Lò Rèn, chưa thấy dấu tích gì quen thuộc. Đang phân vân thì có một lão ông đi qua, tôi hỏi:
- Thưa, làng Kim Nại mô rứa Bác?
Ông già nhìn tôi dò hỏi:
- Cậu ở mô tới?
- Cháu ở dưới Quảng Xá.
- Cậu đương đứng giữa làng.
Tôi cảm ơn ông già rồi lùi lại đếm từng đường trôỗng (đường ngang nối hai đường cái trên và dưới chạy qua làng) để định vị trí. Chỉ một lát sau, tôi tìm được nhà O Thuyết, giữa trôỗng đầu xóm trong. Hai ông bà đang ngồi ở chiếc chõng tre giữa nhà.

Cấy lúa
- Chào chú, chú cho tui hỏi thăm, nghe nói làng miềng có người muốn bán bò, chú biết khôông, chỉ dùm.
- Bựa ni mần chi có bò. Ai còn một hai con thì để cày, khôông ai bán mô.
- Dạ tui cũng nghe người ta đồn rứa thôi. Nhà chú có làm ruộng không?
- Hai vợ chồng 1 công, khôông đủ đong khoán.
- Rứa tới mùa phải thuê cày?
- Có tiền thì thuê, khôông thì đổi công.
- Dưới tui cũng rứa, ruộng nương bựa ni khó quá chú hè.
- Giặc giã mới xong thì rứa thôi.
Chủ nhà nói chuyện mà trong ánh mắt như có điều gì ngờ ngợ. Tôi cố hỏi dò thêm vài câu rồi tìm cách chuồn:
- Tui nhớ hồi trước làng đông lắm, bựa ni thưa rứa, chắc là bị chiến tranh...
- Nhiều nhà chừ lên ở trên đường sắt, trên nớ khôông bị lụt...
- Chú có người mô bà con trên nớ khôông?
- Nhiều chớ, eng hỏi eng Trợ coi thử có ai bán bò khôông.
Tôi cảm ơn rồi dắt xe đi nhanh. Băng qua cánh đồng, lên hướng đường sắt. Rải rác đây đó từng tốp người đang gặt lúa. Cây lúa ở đây còi quá, nhánh lúa chừng gang tay, bằng nửa nhánh lúa trong Nam. Tôi nhớ ngày trước cánh đồng rộng mênh mông, nay như co hẹp lại. Ngày trước, Lòi phủ cây cối xanh cao như cánh rừng già, chắn tầm mắt nhìn vào dãy Trường Sơn, nay Lòi trơ ra một con đồi trọc như một đập nước. Lèn Áng bây giờ đứng ngay trước mặt chứ không còn xa thăm thẳm. Nhìn chỗ nào cũng thấy lạ, cây đa giữa làng, nơi chú De đứng thổi tù và mỗi buổi sáng, để đón trâu bò dân làng lùa ra gởi, nay cũng không còn. Ngày mùa mà sao cảnh xác xơ, không nghe tiếng hò hay cười nói của thợ gặt. Từng nhóm người nhỏ, rải rác đó đây, cặm cụi lo công việc trong âm thầm nặng nhọc. Mấy cháu bé, thay vì đến trường lại theo bố mẹ lang thang ngoài đồng. Tôi hình dung đến đêm trăng ngày mùa nơi đây, dù trăng có sáng vằng vặc, cũng không tìm đâu ra cái không khí của “Gạo trắng trăng thanh” như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ mô tả. Con người của đồng quê hôm nay không thảnh thơi để hỏi: “Ô hay, Trăng vui sao Trăng rụng xuống cầu”. Tự nhiên lòng buồn hẳn lại. Cái hình ảnh thơ mộng của ấu thời mà tôi nuôi dưỡng lâu nay, thật sự đã mất.

Cầu Long Đại núi Thần Đinh
Qua khỏi Lòi, men theo mương nước vào một xóm nhà tranh, gặp người đàn bà nách rổ đi qua tôi hỏi:
- Chị cho tui hỏi thăm, nhà eng Trợ mô rứa chị?
Người đàn bà quay lại chỉ cho tôi:
- Chú theo mương nước tới đàng nớ rẽ trái, nhà có cây xoài đó.
Vừa vào đến sân đã thấy một người đàn ông gầy nhom, đen sạm, bước ra. Xa nhau từ hồi mới lên mười, đến nay nét mặt của Trợ vẫn thế. Tôi hỏi:
- Xin lỗi, anh là anh Trợ? (tôi đổi qua giọng lơ lớ như người đi xa về)
- Dạ phải, eng ở mô rứa? Có chuyện chi khôông?
- Tui người Quảng Xá, hồi nhỏ vô Nam, ở Nha Trang. Tôi có quen anh Trần Công Nhung, dạy học. Anh Nhung nhờ tôi trong dịp về thăm làng, tìm hỏi dùm xem bà con ai còn ai mất.
Nghe vậy Trợ rất mừng, mời tôi vào nhà, rót nước trà rồi quay xuống bếp sai một đứa bé chạy đi việc gì đó. Chỉ một lát sau, bà con kéo đến gần chục người, tuổi từ 40 mươi trở lên, trông ai cũng khắc khổ và già sọm. Mọi người vui vẻ chào hỏi tôi, nhưng trong ánh mắt họ đầy ngờ vực. Tôi kể đủ thứ chuyện để người nghe không kịp nghĩ ngợi. Vừa nói chuyện tôi vừa nhận dạng từng người. Ả Man vẫn còn nét duyên dáng ngày trước. Hồi tôi mới 4 tuổi, theo bố về làng, được chị cho ăn mía, mía tím ở thôn quê ngọt và mềm. Có lúc chị nằm võng ẵm tôi vào lòng ru tôi ngủ. Chị mặc áo nâu, tóc bối, mỗi khi cười là thấy rõ hai đồng tiền trên má chị. Người chị có mùi thơm rất lạ, tôi nhớ mãi. Bây giờ chị là một bà già đang ngồi trước mặt tôi. Chị nhìn tôi cười cười, dường như chị cố phanh phui tìm trong ký ức về tôi. Một người hỏi:
- Chú ở trong nớ có thường tới nhà chú Dung khôông
- Có chớ, thứ bảy, chủ nhật là gặp nhau. Thành phố nhỏ nên chuyện gặp nhau đâu khó khăn gì.
- Chú Dung chừ mấy con rồi?
- Ôi, ông ấy thì đông lắm, sáu trự rồi, nhưng chỉ một thằng Cu thôi.
Mọi người nhìn tôi chăm chăm, cười. Một thanh niên chợt hỏi:
- Cháu hỏi thiệt, chú phải chú Dung khôông?
- Vậy là bà con không tin tôi. Tôi là bạn của anh Nhung. Anh Nhung dạy học còn tôi buôn bán. Tôi bán vật liệu xây dựng.

Hói làng
Tôi móc trong túi áo ra một mảnh giấy và hỏi tiếp:
- Anh Nhung nhờ tôi hỏi thăm những bà con sau đây: Anh Củng, anh Trợ, chị Man, chị Khiêu, anh Dự, chị Đật, O Mỹ... và nhiều con cháu nữa. Vậy cho tôi biết tin tức từng người để lúc trở lại Nha Trang tôi báo cáo anh Nhung.
Mọi người thay phiên giới thiệu nhau, cho tin từng gia đình, ai còn ai mất, tôi vờ lấy bút ghi ghi, lúc tôi toan đứng dậy thì người nhà đã bưng cơm lên, một mâm cơm đạm bạc, Trợ vừa hít hà vừa nói:
- Chừ cũng trưa rồi, chắc eng chưa cơm nước chi, mời eng ăn tạm cơm mắm.
Tôi nói đưa mấy câu rồi cầm đũa, thật tình thì cũng đói lắm rồi. Trong lúc tôi ăn cơm bà con lại có dịp dò xét, họ xầm xì trao đổi với nhau, họ không tin tôi, họ vây quanh chị Man dò hỏi chị, chỉ có chị mới nhớ rõ tôi. Sau bữa cơm tôi tìm cách cáo biệt, nấn ná thêm sẽ khó giữ kín hành tung của mình.
Trời nắng chang chang của một ngày hè không làm tôi khó chịu, trái lại thấy vui vui, không ngờ có ngày mình được trở về nhìn lại làng xưa, dù bây giờ đã rách nát tả tơi, đã thay hình đổi dạng, đâu đâu cũng một màu vàng cháy khô cằn khắc khổ, không còn cái dáng vẻ mỹ miều xanh tươi như ngày trước nữa.
Tháng Chín, 1975
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 12, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách nguyên bộ 12 tập (discount), xin liên lạc:
Tòa soạn Nhật Báo Viễn Đông, 14891 Moran Street, Westminter, CA 92683. Điện thoại: 714-379-2851.
Những sách khác, liên lạc tác giả qua P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Website: www.ltcn.net
Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài và hình ảnh trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.