Bạn thích bài này?
Font-Size:
Vị chủ tịch sáng lập ra Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ
(VienDongDaily.Com - 05/07/2011)
Cô Clara Barton sinh ngày 25-12-1821 tại Oxford, tiểu bang Massachusetts, trong một gia đình đông con, gồm 2 trai, 3 gái, mà Clara là cô gái út. Lớn lên, ...
Hồ Sĩ Viêm/Viễn Đông

redcrossUSA.jpg

Tấm bích chương do họa sĩ Alonzo Foringer vẽ “Người Mẹ Vĩ Đại trên Thế Giới” được phổ biến rộng khắp với hàng chục triệu ấn bản trong chiến dịch năm 1918 Đệ Nhất Thế Chiến, trở thành một biểu tượng của Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ - nguồn: Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ.


Cô Clara Barton sinh ngày 25-12-1821 tại Oxford, tiểu bang Massachusetts, trong một gia đình đông con, gồm 2 trai, 3 gái, mà Clara là cô gái út. Lớn lên, đầu tiên cô làm giáo học ở tỉnh nhà, sau đó đổi đến dạy tại tỉnh Bordentown thuộc tiểu bang New Jersey. Sau 18 năm hoạt động trong ngành giáo dục, năm 1854, cô chuyển sang làm việc hành chánh cho văn phòng Cấp Phát Bằng Sáng Chế của chính phủ tại Washington D.C.
Thế rồi cuộc nội chiến Bắc-Nam tại Hoa Kỳ bùng nổ, cô Clara từ nhiệm nghề thư ký, để xung phong vào đoàn Nữ Chiến Binh phụ trách về tiếp tế và săn sóc các thương bệnh binh tại chiến trường. Tại đây cô đã làm nổi bật vai trò người phụ nữ trong chiến tranh, bằng tính tình quả cảm, can trường và lòng yêu thương người bao la, cô đã coi thường nguy hiểm, xông pha trong khói lửa, để tải những người chiến sĩ bị thương ra khỏi chiến trường và săn sóc họ một cách tận tình, chu đáo. Tiếng tăm của cô, người chiến sĩ nào cũng biết, cũng yêu thương, quí mến. Người ta không gọi cô là Clara nữa, mà là “Nữ Thiên Thần của Chiến Trường”. Danh tiếng đó đã vang về tới trung ương và chính phủ đã cử cô làm Tổng Thủ Lãnh đoàn quân Nữ Y Tá trong binh đoàn tướng James.
Sau khi cuộc nội chiến chấm dứt, vì tình người, cô Clara không chịu nghỉ ngơi, mà còn xả thân lo nghĩ về việc hàn gắn chiến tranh. Cô đã mở văn phòng để lo tìm kiếm tông tích những người lính coi như bị mất tích trong trận chiến và lo xây cất mộ phần đẹp đẽ cho 12.000 tử sĩ.
Cô làm việc quá hăng say đến nổi quên cả sức khỏe của mình. Cho đến một ngày hôm đó cô ngất xỉu và phải nằm liệt trên giường bệnh cả nhiều ngày. Đến lúc bình phục, một bác sĩ đã khuyên cô, nên xuất ngoại du ngoạn ở một nơi nào đó, để dưỡng cả tinh thần lẫn thể chất trong một thời gian. Cô đã chọn Thụy Sĩ, một nơi danh lam thắng cảnh đẹp đẽ, và nhất là nơi xứ lạ, chắc ít người biết đến cô, nên cô có thể an tâm yên dưỡng. Thế là vào một ngày trong tháng 9-1869, cô âm thầm xách hành lý một mình xuống tàu thủy để sang Âu Châu. Mấy ngày sau nữa, cô đã đến được thành phố Geneva, kinh thành của xứ Thụy Sĩ thơ mộng. Nghỉ ngơi vừa đúng được vài, ba hôm, thì buổi sáng hôm đó, một phái đoàn 5 người, hướng dẫn bởi bác sĩ Louis Appia, đã đến xin được thảo luận với cô.
Họ tự giới thiệu là một phái đoàn của Hội Hồng Thập Quốc Tế, đặt trụ sở tại Geneva, một tổ chức quốc tế từ thiện, mà Clara chưa một lần được nghe đến. Thì ra trong đầu thế kỷ thứ 19, Hoa Kỳ chỉ chăm lo phát triển và ổn định lãnh thổ, nên không quan tâm gì đến những hoạt động về quốc tế. Nhất là vào năm 1863, khi Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế được thành lập vào ngày đầu tiên với 16 quốc gia thành viên, thì tại Hoa Kỳ đang có nội chiến, khói lửa tơi bời, nên chính phủ Mỹ chẳng để ý gì đến các tổ chức quốc tế đang hoạt động rầm rộ tại Âu Châu. Tuy rằng Hội này đã 3 lần gửi thư mời Hoa Kỳ cử đại diện tham dự mà chính phủ vẫn làm ngơ không trả lời.
Nhờ phái đoàn mà cô Clara được biết rõ vì sao Hội này đã được thành lập. Nguyên vào ngày 24-6-1859, Henri Dunant, một thanh niên trẻ tuổi người Thụy Sĩ, có việc phải đi lên miền bắc của Phi Châu. Hôm đó trên cuộc hành trình ông phải nghỉ lại tại Castiglione, một thành phố nhỏ của nước Ý. Trước đó một ngày tại đây đã có cuộc giao tranh ác liệt giữa liên quân Pháp-Ý chống lại nước Áo. Một trận chiến thật đẫm máu, nên khi kết thúc vào buổi chiều, lúc quân đội Áo rút lui, thì đã có trên 40.000 người lính của cả hai bên, bị chết và bị thương nằm la liệt trên cánh đồng có tên là Solferino.
Khi Dunant vào đến thành phố Castiglione, ông ta thấy cả thành phố đầy những người lính bị thương. Tất cả các nhà rộng đôi chút và ngay cả nhà thờ đều tạm thời được sử dụng để làm bệnh viện. Những người lính có thân nhân thì đều được gia đình khiêng đi chữa chạy. Nhưng còn hàng trăm người lính khác thì còn nằm vật vờ trên hè phố. Họ không biết đi đâu và cũng không có một ai để ý chăm lo cho họ. Những bác sĩ giải phẫu quân đội thì làm việc không ngơi tay, nhưng vì số lượng họ ít quá, mà bệnh nhân lại quá đông, nên nhiều người lính phải chờ hàng giờ và có khi cả nhiều ngày, mà cũng chưa tới lượt mình. Tiếng kêu la, rên xiết, vẳng lên từ khắp chốn trong thành phố, làm mọi người cảm tưởng như đang sống trong một địa ngục trần gian.
Thấy hoàn cảnh quá thảm thiết, nên Dunant cũng xông vào giúp đỡ một tay. Ông đã gia nhập vào một đoàn gồm các bà nội trợ, các người dân trong thị trấn và ngay cả một số người ngoại quốc đang có mặt, để săn sóc cho các người lính bị thương cả về hai phía. Họ đã bôi thuốc băng kín những vết thương, tiếp tế nước cho những người bị khát, xoa nhẹ những vết đau đang hành hạ bệnh nhân và an ủi, cầu nguyện cho những người vừa nhắm mắt ra đi vĩnh viễn. Ngày đó, những người lính, chết vì không được săn sóc, số lượng lên rất cao.
Một tháng sau, trở lại Thụy Sĩ rồi, Dunant vẫn không thể quên được những hình ảnh quá đau thương, thê thảm của những người lính. Tự nhiên ông nẩy ra ý kiến, “Có thể nào lập lên được một tổ chức gồm mọi quốc gia, để thời bình họ huấn luyện cho những người dân tình nguyện, đàn ông cũng như đàn bà, về cứu thương, để một khi chiến tranh xẩy ra, họ xông ra giúp đỡ khi cần thiết”. Thế rồi suốt 5 năm tiếp theo, Dunant đã tới thăm khắp các thủ đô của các nước Âu Châu, để đề nghị lên các chính phủ các nước này kế hoạch của ông.
Cuối cùng vào năm 1863, một Ủy Hội được thành lập tại Geneva và năm sau đại diện của 16 nước đã hội họp và ký vào một Hiệp Ước Chung, theo đó họ ưng thuận lo săn sóc cho các người bị thương đồng đều không phân chia phe mình hay phe địch. Các nước cũng đồng thuận là trong cuộc chiến, các bệnh viện quân đội, các xe cứu thương không được bắt giữ. Các bác sĩ và y tá đang săn sóc cho các bệnh nhân không được làm tổn hại cũng như cầm tù họ.
Hiệp ước cũng chấp nhận lá cờ mầu trắng ở giữa có chữ thập đỏ là biểu hiệu của tổ chức Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Lá cờ này giống hệt như lá cờ của Thụy Sĩ, nhưng trái ngược màu. Lá cờ Thụy Sĩ nền đỏ và chữ thập trắng.

ClaraBarton2.jpg

Clara Barton năm 1902, chụp tại Saint Petersburg, Nga, trong dịp bà dự hội nghị Hồng Thập Tự quốc tế lần thứ 7 - nguồn ảnh: NPS.


* Cuộc vận động của Clara Barton
Hiểu được rõ về tôn chỉ và mục đích của một tổ chức quốc tế lớn lao, để làm đỡ bớt những đớn đau của nhân loại, cô Clara Barton trong lòng vui sướng, nên quên cả mệt nhọc. Cô lại bỏ ý định nghỉ ngơi, để xông ra làm việc xã hội tại Âu Châu. Cô đã xin xung phong hoạt động trong đoàn Hồng Thập Tự Pháp.
Trong thời gian này, Pháp và Đức đang có một cuộc chiến đầy máu lửa và hận thù. Cô đã thực sự ngạc nhiên, khi thấy dưới lá cờ Hồng Thập Tự Quốc Tế, con người chỉ là bạn, mà không hề có thù. Cả hai nước Pháp và Đức đã mở hai trụ sở của Hồng Thập Tự bên nhau và mặc dầu bên ngoài bom đạn đang nổ vang, máy bay gầm thét rầm trời và bao nhiêu tòa nhà đang sụp đổ, thì hai tòa nhà Hồng Thập Tự vẫn đứng vững, không hề bị tấn công và trong đó những nhân viên làm việc vẫn coi nhau như bạn, đã hoạt động cùng nhau và cùng nhắm vào một mục tiêu chung, là cố xoa dịu lại nỗi thương đau của nhân loại.
Cô Clara có đến thành phố Strasbourg, một thành phố đang chờ đợi để chịu một trận mưa bom của bên địch. Cô được cử phụ trách hướng dẫn một đoàn xe buýt chở khách, gồm toàn những người ngoại quốc, trong đó có nhiều người Mỹ, để chạy ra ngoài thành phố lánh nạn. Đầu tiên cô đã treo lá cờ Mỹ trên xe, nhưng đoàn xe cứ bị chận lại mãi, vì những lính canh gác không hiểu lá cờ Mỹ là nước nào. Sau đó cô phải thay lá cờ Mỹ bằng là cờ Hồng Thập Tự, thì đoàn xe đó đã được lính gác cho chạy nhanh suôn sẻ. Lá cờ Hồng Thập Tự đã trở thành một biểu hiệu quốc tế về tình thương yêu nhân loại của mọi nước, mọi dân tộc.
Ở tại Âu Châu trong 4 năm, cô Clara Barton đã giúp cho Đức thiết lập thêm được một số bệnh viện, do đó Hoàng Đế Đức đã ban thưởng tặng cho cô một huy chương cao quí của Đức. Clara Barton trở về Mỹ vào năm 1873 và tức khắc cô mở một chiến dịch vận động Hoa Kỳ tham gia vào Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Bị nhiều người ghen tuông, gièm pha chống đối, nên công cuộc vận động của cô gặp rất nhiều khó khăn.
Vị tổng thống Mỹ đầu tiên cô được tiếp xúc là Tổng Thống Rutherford B. Hayes. Ông này đã tiếp cô niềm nở, nhưng lạnh lùng đối với chương trình của cô. Cô đã bị đưa đẩy từ bộ nọ qua bộ kia, từ văn phòng này đến văn phòng khác, mà kết quả sau 2 năm vận động, không tiến triển được thêm một bước nào.
Đến kỳ bầu cử, Tổng Thống Hayes bị thất cử và Tổng Thống James A. Garfield lên kế nhiệm. Vị tổng thống này nhận thấy ngay cái quí giá của tổ chức quốc tế này, nên có nhiều thiện cảm. Do đó việc giấy tờ đi lại có phần dễ dãi, tiến gần đến thành công. Nhưng đến phút cuối cùng, Tổng Thống Garfield bị ám sát chết, nên công việc lại bị đình trệ.
Tổng Thống Chester A. Arthur lên thay, cũng có nhiều chú ý tới công cuộc này như tổng thống tiền nhiệm, nhưng vì bận nhiều công việc đa đoan, nên mãi đến một năm sau nữa, Hoa Kỳ mới chính thức gia nhập Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Thế là sau 9 năm trời vận động, bỏ vào biết bao nhiêu tâm tư, công sức, đến ngày nay mộng của cô Clara mới trở thành sự thực. Cô đã trở thành người sáng lập và được bầu làm chủ tịch đầu tiên của Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ.
Trong 23 năm đảm nhiệm chức vụ trên, cô Clara đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế và chính cô đã đề nghị, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế không những hoạt động trong thời chiến, mà còn hoạt động luôn cả trong thời bình. Cô đã tổ chức những cuộc cứu tế xã hội, để xoa dịu những nỗi đau khổ của con người, như trong vụ sốt da vàng ở Florida vào năm 1887, vụ nước lụt ở Johnstown thuộc Pennsylvania năm 1889, vụ nạn đói ở Nga năm 1891, vụ lộn xộn ở Armenia năm 1896, vụ chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha năm 1898, cuộc chiến Nam Phi Châu trong những năm 1899-1902. Công cuộc cứu trợ cuối cùng của cô là nạn lụt tại Galveston, tiểu bang Texas, năm 1900. Năm 1912, cô Clara Barton mất tại Glen Echo, tiểu bang Maryland, hưởng thọ 91 tuổi.
Thật là một người đàn bà phi thường, suốt cả một cuộc đời chỉ sống vì người, luôn luôn nêu cao tinh thần vị tha cao cả, không bao giờ nghĩ đến mình. Đến nổi khi nhắm mắt lìa đời, tiếng cô (Miss) luôn luôn gắn liền với tên, cô Clara Barton, như từ hồi còn bé, vì cô chưa từng một lần lập gia đình.

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/vi-chu-tich-sang-lap-ra-hoi-hong-thap-tu-hoa-ky-ZpVrmOWe.html
Bookmark and Share
Bạn thích bài này?

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận

Quảng cáo