Văn Hóa Miền Nam: người Nam Kỳ không lập gia phả dòng tộc
Monday, 02/02/2026 - 09:29:02 PM
Có người viết ngàn năm thương nhớ Thăng Long. Người miền Nam: một đi không trở lại. Không giá phả

Cái đề tài gia phả của dân Miền Nam này đã có lần nói rồi. Hôm nay lôi ra nói lại một lần nữa. Đặc tánh của người Nam Kỳ là không lập gia phả. Đó là một câu khẳng định chắc như đinh đóng cột mà người Miền Nam nào cũng biết là đương nhiên.
Gia phả là gì?(家譜) gia phả hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ,gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó và có những định chế quyền lợi nghĩa vụ ràng buộc của dòng họ đó.
Nam Kỳ ta có tánh mở. Với diện tích 67.870 km2, châu thổ Nam Kỳ là châu thổ lớn nhứt của Việt Nam. Sông ngòi, kinh rạch của Miền Nam chằng chịt tạo ra tư thế cho dân Nam Kỳ là muốn đi đâu thì đi, không ai cản nổi, đó là tâm thế nghinh ngang và đề cao sự tự do dân chủ.
Sau 1975 hàng triệu người Miền Nam đã đi ra biển tìm Tự Do.
Đọc sử, ta sẽ thấy tác giả của hệ thống làng đóng lũy tre làng ở Miền Bắc là ông Trần Thủ Độ. Đó là cái làng phòng thủ, có bờ tường và lũy tre làng bao quanh như pháo đài, có cái cổng làng.
Văn Cao tả:
"Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều.."
Làng Bắc Kỳ là một cái pháo đài, cái ốc đảo tách biệt nhau ra. Ra vô làng chỉ duy nhứt một con lộ nhỏ đi qua cái cổng làng, có tam quan, có chòi canh, có cánh cửa dày cui bằng gỗ lim. Người vô làng sẽ biết ai lạ ai quen dưới ánh mắt dò xét của dân làng.
Làng Bắc không thân thiện, ít hiếu khách, phân biệt dân mới dân cũ, ma mới ăn hiếp ma cũ, phân biệt ngụ cư ngoài đê tùm lum, dân ngụ cư chết không được chôn trên đất làng.
Làng Bắc có hương ước phép vua thua lệ làng, có ông lý trưởng hiệp cùng ông trưởng tộc hét ra lửa như một tiểu vương quyền uy thất kinh.
Làng Nam Kỳ thì không, không lý trưởng, không tộc trưởng, không có quyền hét ra lửa, làng Nam Kỳ khác làng Bắc 100% .
Nam Kỳ không có lũy tre bao quanh, nên khái niệm giậu tre già bao bọc không nhắc tới, không có cổng làng, không có dò xét, không phân biệt cũ mới, không xử án ngoài đình, không có phạt vạ cả làng rồi cả đám quan làng húp rột rẹt ngồi ăn.
Ngày xưa nhà dân Nam Kỳ không có hàng rào, ranh đất quy ước, hàng xóm, khách vãng lai qua lại rất dễ dàng.
Nam Kỳ mừng vui khi có người mới kéo tới cùng chung vai khai hoang lập ấp, sau này ổn định thì tá điền không sống nổi ở điền này thì có thể chạy qua tỉnh khác phá đất hoặc mướn ruộng của chủ điền khác mà làm ruộng.
Nam Kỳ không lập hương ước, không có luật làng, người Nam Kỳ ghét thói đạo đức giả kiểu Bắc. Nam Kỳ chú trọng ngắn ngọn, thực chất, tránh lòng vòng, sống thực tế yêu ghét rặc ròi.
Tổ tiên Nam Kỳ rất dị ứng với quy tắc chặt chẽ hắc ám và những nghi thức rườm rà, phiền phức như ở nơi đất cũ nên vô Nam bỏ gần hết.
Nói vậy không có nghĩa Nam Kỳ luông tuồng không văn hoá, không quy tắc.
Nam Kỳ có luật ngầm, luật bát thành văn cho thói ăn ở lịch sự, tôn trọng, biết điều. Nó nằm trong cách dạy con cháu, truyền miệng, đó là cách sống, những thứ thể hiện trong đời thường, đó là luật bất thành văn, ai tuân thì tiến, ai phá thì sẽ bị cộng đồng rời xa, luật chơi Nam Kỳ dễ mà khó.
Đó là tinh thần cởi mở trong quan hệ, nhạy bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần dân chủ, tôn trọng ý thức của mỗi cá nhân.
Nam Kỳ không có thần phả, thần tích hoặc thánh phả, nếu có chỉ là những câu chuyện kể dân gian như "Nam Kỳ cố sự", những bài thơ truyền miệng dạng vè như "Vè Thông Chánh", "Vè Nọc Nạng" ...
"Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra
Chép làm một bổn để mà coi chơi
Trà Vinh nhiều kẻ kỳ tời
Có thầy Thông Chánh thiệt người khôn ngoan."
Miền Nam không lập gia phả là đặc tánh.
Khi tôi nói Nam Kỳ không gia phả sẽ bị nhiều người Nam Kỳ màu mè đạo đức giả quý tộc xe ba gác ghét. Vậy cũng cần dẫn chứng vài câu cho nó vui há?
Ông Sơn Nam nói là Nam Kỳ không lập gia phả:
(Dẫn chứng):
"Về gia phả gần như không có, người khẩn hoang ở Nam Bộ (Nam Kỳ) không ghi chép lại để che giấu lý lịch, đề phòng trường hợp tru di tam tộc, theo luật phong kiến."(Trích Sơn Nam, Đồng Tháp Mười xa xưa, Lịch sử Đồng Tháp Mười, Võ Trần Nhã (chủ biên), Nxb Tp.HCM, tr.31.)
Trở lại vấn đề. Vì sao người Miền Nam không coi trọng gia phả như người Miền Bắc?
Dân Nam Kỳ có câu cười người Bắc đi đâu cũng "lật" tổ tiên ra dò xét, cũng nhận tổ tiên kiểu bà con họ hàng rồi đòi hỏi thiên hạ phải làm này nọ cho mình, câu đó là "Tổ tiên đại bác thụt không tới mà cứ mò hoài."
Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang,kêu là lưu dân, lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi. Đó là người Ngũ Quảng: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng...mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay.
Đó là dân nghèo, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử...
Lưu dân là dân tứ xứ, họ muốn giấu thân phận, nên viết gia phả để làm gì? Viết gia phả để vinh danh những người đã làm cho mình phải bỏ xứ ra đi hay sao?
"Tới Cà Mau ,Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?"(Sơn Nam)
Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là "Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời."
"Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma."
Rồi thời chúa Nguyễn,lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai.
"Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về."
Gia Định là nơi đô hội trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn,phước lớn.
Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ,ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc.
Cùng là dân tộc Việt, nói một tiếng, viết một chữ, song phong tục Nam Bắc trong ngày Tết khác nhau hoàn toàn.
Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn, Nam Kỳ ăn bánh tét, tét ra khoanh tròn, Bắc uống trà trong chén kêu uống chè thì Nam Kỳ uống ly kêu uống trà.
Ngày 23 tháng chạp đưa Ông Táo người Nam Kỳ cúng cò bay ngựa chạy, Bắc Kỳ cúng cá chép sống. Nam Kỳ cúng Ông Táo ngày 23 và mùng 10 cúng Thổ Thần tạ ơn, Bắc Kỳ gọi Ông Công Ông Táo.
Bắc Kỳ thì kêu Tết là "mồng", Nam Kỳ kêu là mùng.
Nam Kỳ mần thịt kho hột vịt nước dừa, Bắc nấu thịt đông. Nam Kỳ ngâm củ kiệu dưa giá làm chua, còn Bắc mần dưa hành.
Bắc gọi cái bát thì Nam Kỳ xài cái chén trong ăn cơm. Nam Kỳ kêu là mua ve chai, Bắc kêu ve chai là "đồng nát". Nam Kỳ kêu cái tủ đựng đồ ăn là Gạc Măng Rê (Garde à manger) thì người Bắc kêu là cái "chạn bát".
Người Nam Kỳ nói "Cho tao mượn cái nồi coi mậy!" thì người Bắc nói ”Bác cho em mượn cái lồi ạ !”
Bắc chửi "Đuỵt mẹ", Nam chửi "Đù móa".
Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc đè cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó,cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặt nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.
Nam Kỳ khác Bắc phần nhiều. Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ, người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ "trôi sông lạc chợ" đó.
"Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người quân tử lạc loài tới đây
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về."
Gái Nam Kỳ chịu chơi,dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại:
"Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa."
Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam đã chủ động bỏ tục lệ gần hết. Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử "hương ước" ở đình làng như ngoài Bắc.
Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng,l àng Nam Kỳ là làng mở, nhưng có những luật bất thành văn mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện,chánh tổng.
Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà ,nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian, hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà.
Nên ai làm phim Miền Nam mà cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sông, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình/
Người Nam Kỳ không lập gia phả là một đặc tánh vùng miền.
Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả.
Các nhà nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Miền Bắc là đầu môi chót lưỡi, là khoe khoang kiểu Cao Bá Quát, Lê Qúy Đôn, tức thể hiện bằng cái miệng.
Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng khiêm cung, cách sống hề hà, bằng thực tế của biểu hiện từ bên trong con người trong cư xử với nhau/
Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô,còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi".
Cái chữ trần trụi hơi quá, nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời nữa. Những người bị "chừa ra" sẽ biết mình bị lỗi gì đó rồi dù chủ nhà không hề nói. Nói làm chi mích lòng chòm xóm.
Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc gì hết.
Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho, sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên và học giả Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của là người Miền Nam.
Nhìn đền chùa,miếu mạo Nam Kỳ xưa đi, hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng.
Không viết gia phả vì thấy không cần thiết.
Một xã hội Miền Nam đã thiết lập tánh mở kiểu "bán họ hàng xa mua láng giềng gần" thì không cần gia phả.
Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà toàn nhờ láng giếng gần đó, quan hệ láng giềng thân hơn ruột thịt.
"Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Anh thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay."
Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình.
Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là anh Hai, chị Hai?
Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm,theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ. Nói vậy không trúng.
Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa.
Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng, không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ nên Nam Kỳ tránh "Anh Cả", vậy chứ ông Hương Cả thì sao? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề.
Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác ngoài Bắc khi bỏ cả,chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai. Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinh hoàng kiểu Bắc.
Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì, chỉ tượng trưng và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng.
Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự cúng kiếng trong Nam là con trai út.
Người dân Bắc thường có nhà thờ họ nơi thờ ông bà tổ tiên của dòng họ mình.
Trong Nam ít có nhà thờ họ mà lại có nhà Từ Đường nơi giữ hương hỏa của dòng họ. Từ đường là ngôi nhà mà ông bà, cha mẹ thuở sanh tiền ở với người con trai, thường là con trai út.
Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi.
Câu "Giàu út ăn nghèo út chịu"cũng của Nam Kỳ đưa ra. Thằng út giữ hương hỏa trong nhà, nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha! Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.
Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy, ông này chết thì ông bác ba lên thế.
Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao.
Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây, đó là dân chủ.
Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ, tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ.
Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là Từ Đường tức nhà thờ tổ,tức là nhà nào mà cha mẹ ông bà chết và có bàn thờ là nhà thờ tổ.
Ông nào giữ hương hỏa thời có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ tiền bạc với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc.
Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói.
Với bản chất trọng người sống, kỉnh người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc.
Thường giữa nhà người Nam đặt cái bàn thờ 九玄七祖 "Cửu Huyền Thất Tổ" tức 7 đời tổ tiên trên chín tầng trời.
Nhưng thực ra người Miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa, gộp chung.
Có câu Ngũ đại mai thần chủ (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là "Cửu huyền thất tổ" và giỗ chung tượng trưng.
Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội, nó như một cái sân khấu. Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ.
Nam Kỳ không có thằng mõ tay chưn của lý trưởng, không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Màu.
Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chổ làm việc của làng, tra án ở đó,không mang vô đình như ngoài Bắc.
Coi "Con nhà nghèo" bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại "Tôi đang tra án nó, mà thuở nay làng tôi có gông đâu mà đóng."
Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, mâm bá tánh, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa, sau 1975 kêu "mâm chiến sĩ".
Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi. Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa.
Người Nam Kỳ cúng lề, cúng đất, cúng Chú Thổ, cúng cô hồn.
Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ, họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà cháo vịt .
Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên.
Đồ Chiểu chửi rằng "Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn".
Xưa Nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ. Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.
Từ đó cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình.
Trong "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức có đoạn:
"Vùng Gia Định đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. nhà nào tục nấy.Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…."
Đó là tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức,sống thực dụng.
Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam.
Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của Nam Kỳ.
Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành như dân Huế. Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn.
Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc, Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập thế tục. Người Công giáo Nam Kỳ luôn ít hơn Công giáo Bắc Kỳ.
Sông rạch và đồng bằng minh mông tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, không cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị nhưng tràn trề tình thương, biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống tha thiết với Quốc Gia.
Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bổ bả.
Không lập gia phả, nhưng con cháu sống làm sao phải ra dáng con người,sống không làm tủi nhục tổ tiên, sống thẳng, sống có ích, sống không để tiếng dơ cho tổ tiên dòng họ. Đó là luật bất thành văn.
Khẳng định người Nam Kỳ không lập gia phả vậy có đúng hết không? là vì vẫn có nhà trong thiểu số nào đó có gia phả?
Đó là thiểu số thôi nó không thể hiện đặc tánh cả Miền Nam.
Không thể nói họ Mạc Hà Tiên của Mạc Thiên Tích có gia phả thì dân Miền Nam phải có gia phả vì họ Mạc là người Tàu.
Có ai nói người Tàu Miền Nam ăn xì dầu thì người Miền Nam có đặc điểm ăn xì dầu không? Nam Kỳ ăn nước mắm.
Cũng như người gốc Tàu ở Nam Kỳ có tục ở "tứ đại đồng đường" thì nói dân Miền Nam cũng tứ đại đồng đường sao? Làm gì có.
Vụ gia phả nếu truy ra sẽ có hai vấn đề:
-Những dòng họ quý tộc Miền Nam để giữ cái "danh giá" thì họ viết gia phả đặng cúng kiếng.
Ông bà ta có câu phú quý sanh lễ nghĩa.
Họ Phạm Đăng của bà Từ Dũ ở Gò Công. Vùng Gò Công hồi đó gọi là Kiến Hòa đạo thuộc về trấn Định Tường. Ta thấy “viễn tổ” dòng họ Phạm là ông Phạm Đăng Khoa gốc thứ dân, quê quán tại Quảng Ngãi.
Vào cuối thế kỷ 17, ông Khoa cùng gia quyến theo đoàn người Nam tiến, vào khai hoang lập nghiệp tại vùng đất giồng Sơn Qui xứ Gò Công. Ông Phạm Đăng Hưng cha bà Từ Dũ là hậu duệ đời thứ 4 của ông Khoa.
Lớp đầu tiên là dân lưu dân Quảng Ngãi trôi vô Nam như ông Phạm Đăng Khoa tụt mồ hôi sôi nước mắt để phá rừng, khẩn hoang, lập làng xóm, đương đầu với rừng rậm, muỗi mòng, rắn rít và các loại mãnh thú nguy hiểm, phải cầm dao đánh với người Khmer,người Xiêm La,cướp biển.
Một hai đời đầu nhà này không có gia phả, họ nhớ tên ông bà bằng cách thông thường như hàng vạn lưu dân Nam Kỳ khác, cái cần là cơm bỏ bụng và ổn định cuộc sống.
Ông Phạm Đăng Tiên là đời 2 có chút chữ nghĩa nên dạy cho con là ông Phạm Đăng Dinh, ông Dinh làm rẫy và trở thành ông đồ nghèo.
Tới khi ông Phạm Đăng Hưng thi đậu tam trường Gia Định và đi làm quan cho chúa Nguyễn Phước Ánh rồi ông làm ngoại vua Tự Đức, Thái Hậu Từ Dũ vang danh thì cái "gia phả" nhà này khúc sau được dựng để thờ tự, mới quan trọng.
Nhà quý tộc sẽ chú ý cái gia phả đặng cúng kiếng và cho con cháu nhớ cái vinh quang của cái đời đã tạo ra nó.
Họ Lê Văn của Tả Quân Lê Văn Duyệt cũng vậy.
Thủy tổ là ông Lê Văn Lương khi từ Quảng Ngãi vô Nam cũng khổ gần chết, cơm không đủ ăn, làm việc khai hoang hộc máu thì gia với phả làm chi.
Tới đời cháu thứ 4 là Lê Văn Duyệt sau thành quan đại thần của vua Gia Long vang danh thì dòng họ này gia phả mới hình thành.
Mà cái gia phả họ Lê Văn này ngày nay mù mờ, chẳng ai biết rõ.
Là vì những ngôi mả cổ dòng họ Lê Văn ngày nay ở ấp Hòa Quý, xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè không có con cháu trông coi.
Mà ngày giỗ chính xác của tổ tiên họ này cũng không ai biết là ngày nào. Nếu còn gia phả thì lật ra sẽ biết.
Là vì sau vua Minh Mạng xử ông Lê Văn Duyệt thì vua cũng mạnh tay với tộc họ Lê, con cháu phiêu bạt khắp nơi bỏ mộ phần hoang lạnh.
Nhưng dù gì, nói theo người Miền Bắc có chém chết người ta vẫn giữ cuốn gia phả, đằng này họ Lê Văn không tìm ra, chứng tỏ nó cũng không quan trọng là mấy.
"Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả"của Vũ Thế Dinh cũng là của họ Mạc Hà Tiên,một họ quý tộc gốc Tàu.
Họ quý tộc, khi vua Nguyễn phong thì phong cho ông bà tổ tiên luôn,thành ra liệt kê tới đời người vô Nam Kỳ đầu tiên, nhờ vậy biết rõ,và cũng là dạng ghi chép,"gia phả"/
Qúy tộc kiểu "Phú quý sanh lễ nghĩa" không phải là đặc trưng của gia phả Nam Kỳ. Có của thì sanh ra lễ nghĩa.
-Có những dòng họ Nam Kỳ vốn là dân Bắc Kỳ mà ra nên chuyện gia phả là đương nhiên
Tại Châu Đốc có phủ thờ họ Lê Công. Dòng họ Lê Công vốn có gốc tích ở Thanh Hoá di cư vào Nam trong những năm đầu thế kỷ XVIII.
Những năm đầu vào,đời thứ nhứt thứ nhì cũng chắc gì có gia phả. Chỉ sau khi triều đình Nguyễn "vinh danh" ông Lê Công Thoàn chức “Tiền hiền” làng Châu Phú và phong ông Lê Công Bích chức vụ “Tổng binh, ông Lê Công Bích được triều đình phong là "Hậu hiền" làng Châu Phú vì họ này có công lập ra Châu Đốc thì gia phả nhà này mới rõ ràng kiểu Bắc.
Qúy tộc kiểu "Phú quý sanh lễ nghĩa" không phải là đặc trưng của gia phả Nam Kỳ.
Chúng ta thấy cả xã hội Nam Kỳ đều không có gia phả, thì vài chục, vài trăm người có gia phả thì điều đó không phải là đặc trưng.
Tỷ dụ,có vài nhà Nam Kỳ nào đó mà con kêu cha là bố, kêu nước lèo là nước dùng thì không ai dám khẳng định là hết thảy dân Nam Kỳ không kêu bằng cha bằng ba mà phải kêu bằng bố hết ráo sao?
Thí dụ dân ngoài Bắc lập gia phả, cả xã hội,nhưng cũng có một số người Bắc không có gia phả vậy.
Nói người Nam Kỳ không lập gia phả là nói dựa theo kiểu xã hội Nam Kỳ, áp vô họ tộc và đình làng, quyền lực ông trưởng tộc. Cuốn gia phả đó đi chung quyền haàn họ tộc.
Vì cuốn gia phả ngoài Bắc đó là thứ ràng buộc kiểu quyền lực tộc họ áp vô cháu con. Còn trong Nam nếu thiểu số nhà nào đó có gia phả thì cũng là kiểu ghi nhớ ông bà, giỗ chạp mà lâu lâu đem ra đọc cho vui mà thôi.
Nam Kỳ chúng ta đa phần không có tộc trưởng và người trong tộc tượng trưng,không có quyền sanh sát, lớp lang răm rấp như ngoài Bắc Kỳ.
Người Nam Kỳ trọng huyết thống trực hệ trong 3 tới 4 đời mà thôi. Thành ra con cháu chỉ biết nội, ngoại, cô dì, chú bác đời gần, còn ngoài ra không thèm để ý, có là tượng trưng.
Những dịp đám cưới, đám giỗ, đám ma con cháu Nam Kỳ tụ lại, đôi lúc hỏi con ai, cháu ai, nói ra là đớ họng cười hì hì vì thực tế chẳng biết ai là ai, gật đầu đại về nhà hỏi thì cha mẹ cũng ú ớ, mà ông bà nội ngoại chết rồi thì hỏi ai đây, cùng,ông sơ quá xa xôi.
Miền Bắc có gia phả, họ chép đủ hết, chi nào, lấy ai, đi đâu, sanh ngày nào, chết ngày nào có đủ.
Gia phả Bắc áp vô cảnh họ tộc, nhà thờ tộc, lũy tre làng, luật tục hắc ám ná thở.
Ngày nay có nhiều khu mả quý tộc, nhà giàu, điền chủ Nam Kỳ xưa hoang lạnh, rêu phong, bỏ hoang không ai coi sóc, các bạn có thắc mắc gì không?
Vì không còn con cháu, con cháu bỏ đi nước ngoài hết rồi. Thế con cháu trực hệ thì đi xa, còn con cháu khác xa xa sao không coi sóc?
Vì Nam Kỳ "Bán họ hàng xa, mua láng giềng gần" mà!
Vì không có gia phả, hoặc có gia phả kiểu chép cuốn sổ học trò hời hợt, kiểu Nam Kỳ nên người ta cũng không tìm ra con cháu.
Gia phả Bắc Kỳ là kéo dài từ đời này qua đời khác, chiến tranh loạn lạc, qua nhiều triều đại con cháu vẫn chép tiếp tục vô cuốn gia phá, nó có tính kế thừa và phát triển.
Còn Nam Kỳ, nhà quý tộc, gia phả gì mà có mấy chục năm là đứt đoạn, con cháu không ai nhìn ai, cũng không biết thế hệ kế tiếp, mồ mả không ai coi, hoang tàn khói tạnh thì sao kêu là gia phả?
Có kẻ đem truyện "Quyển gia phổ" của Bình-nguyên Lộc viết thời ông Ngô Đình Diệm ra dẫn chứng dân Nam Kỳ có gia phả.
Cái này sai, Bình-nguyên Lộc tả không sai, nhưng nhận định Nam Kỳ có gia phả là sai vì trong truyện đây là một gia đình gốc Bắc, họ là những người sống ở Nam Kỳ nhưng Tết về lại gói bánh chưng là hiểu rồi.
Nam Kỳ xưa nay không lập gia phả, đặc trưng nó vậy, đất lề quê thói.
Ông bà chúng ta khác người ngoài Bắc. Còn ai không hiểu, có ý khác thì thây kệ họ!
Sơn Nam viết:
"Người ta là hoa của đất", đất nào sanh ra hoa lá của đất ấy. Đại khái, có thứ đất sanh ra trái cam chua, có thứ đất sanh ra trái cam ngọt, khó thay đổi."
Đất sanh ra người, tâm tánh con người, luật chơi của vùng miền. Quyền lợi ở đâu tổ tiên ta ở đó. Và đất Nam đã sanh ra người Nam Kỳ chúng ta như vậy đó.
Dân sống ý thức, biết nhìn cái xa, biết thương yêu người cùng khổ, biết tầm nhìn vài chục năm.
Nam Kỳ trọng truyền thống, truyền thống Nam Kỳ Lục Tỉnh.
Truyền thống tức là những tính cách ít nhiều rõ nét từ đời trước truyền qua đời sau, cứ như thế, kế tiếp qua nhiều thế hệ, nếu có thay đổi thì cũng từ từ ở vài chi tiết nhưng trong nét lớn thì dường như cố định.
Nam Kỳ không viết gia phả, nhưng ông bà trực tiếp dạy con cháu nhớ về dòng họ mình qua những lời kể,những lời chỉ dạy, nhớ từng cái mả ông bà trong những lần tảo mộ ngày 25 tháng Chạp.
Truyền thống đó là gì? là cái gốc của ông bà, là ý thức giữ vẹn toàn xứ sở, là cái hồn nhiên ăn nói, viết văn, là cái mả, cái nhà, cái bàn thờ ba đời tổ tiên.
Không gia phả, không quyền lực tộc họ đâu có quan trọng với tình cảm của người Miền Nam. Người Miền Nam vẫn thờ tổ tiên kính trọng, giỗ quảy trang trọng trong hai ngày tiên thường và chánh giỗ. Ngày 25 tháng Chạp tảo mộ vẫn dạy con cháu ông bà cha mẹ hiếu để chan hòa.
Và ý thức chánh trị Nam Kỳ Lục Tỉnh, quyền lợi Nam Kỳ Lục Tỉnh.
Là người Nam Kỳ phải có ý thức bảo vệ quyền lợi Nam Kỳ, cái này là đầu tiên, không có quyền thì cả đời mày ăn cám xú như con heo, đi bán vé số.
Cái tiến bộ của ông bà mình là cái thấy rất rõ, từ đi bộ, quá giang đò dọc, xe ngựa, đi xe kéo, xe kiếng, xe hơi, xe máy. Từ đi chưn đất đã mang giày, từ tóc dài đã cắt tóc ngắn, từ thầy lang vườn uống thuốc sắc trong siêu đã đi đốc tờ nhà thương, thuốc Tây bịnh viện.
Áo dài quá rườm rà, không tiện sanh hoạt mọi nơi thì cái áo sơ mi, quần Tây đã thay thế.
Những trò bùa ngãi, trừ tà xưa cũng không còn.
Đó là truyền thống trong sự tiếp thâu cái mới ,cơ bản là cái gốc trong đầu, cái ý thức xứ sở trong chánh trị.
Ông bà mình làm sao cái mình làm y chang vậy hà!
"Viết lại đây mẩu đời luân lạc,
Thương những người chìm nổi, đầy vơi.
Thơ quê khôn tả hết lời..."
(Bình-nguyên Lộc)
Viết bình luận đầu tiên
MỚI CẬP NHẬT

ĐỌC THÊM
Việt Kiều về nước, sập bẫy chân dài!
Chuyện phiếm Việt Kiều Mỹ về Việt Nam gặp cỏ non, non đâu không thấy thấy sập bẫy tình tiền các em xinh tươi chân dài ngọt ngào như mía ...
Những dấu hiệu cho thấy bạn có thể bị dính bùa ngải và cách phòng tránh
Từ trước đến nay, bùa ngải luôn là một phạm trù bí ẩn, chúng ta đã nghe không ít lời đồn đại về bùa ngải và thậm chí có người ...
TẠI SAO CỨ ĐẾN 33-49-53 TUỔI ĐÓ, BIẾN CỐ LẠI ẬP ĐẾN?
Biến cố không đến để hủy bạn, mà để hỏi một câu rất thẳng: đã đủ tỉnh để đổi vận chưa?
Sống ở Mỹ – không giàu nhanh, nhưng không bị bỏ rơi, không ai bị bỏ lại phía sau, kể cả homeless
Nước Mỹ không phải là nơi dành cho những ai muốn giàu nhanh. Điều đó nên được nói ra một cách thẳng thắn. Nếu mang tâm thế “qua Mỹ để ...
5 công thức món ăn cho những ngày gần Tết Bính Ngọ dễ nấu mà rất ngon này rất hợp ăn với cơm, cả gia đình sẽ thích mê!
Đây là 5 món ăn dễ nấu, ngon miệng và bổ dưỡng cho bữa cơm ngày cận Tết. Những công thức này chắc chắn sẽ làm hài lòng cả gia ...